|
Chương 1. Thời
niên thiếu
Augustin lớn
lên trong một thành phố miền Bắc phi thuộc đế quốc Roma. Cha
ngài một công chức tên là Patricius lúc chết mới được rửa
tội. H́nh như Augustine không kính trọng cha ḿnh cho lắm v́
những điều nhắc đến cha trong cuốn tự thú đều là những lời
chê bai. Tuy nhiên thánh nhân biết ơn ông v́ như bao nhiêu
cha mẹ Việt nam, muốn cho con có một nền giáo dục đầy đủ.
Ngài học tại Madaura cách nhà 20 dặm và v́ học giỏi nên được
du học tại Cathage.
Trong chương
này ta thấy Augustine trong thời gian chưa đi Carthage. Dĩ
nhiên những biến cố này có tính cách hồi ức. Đây là cảm nghĩ
của vị giám mục lớn tuổi nghĩ về thời thơ ấu của ḿnh . V́
thế có những bài giảng nho nhỏ chỉ cho thấy những sai lầm
của tuổi thơ và những dại khờ của tuổi thanh xuân.
Có hai đặc
điểm đáng lưu ư. Như những cậu mới lớn Augustin bị lo âu về
hiện tượng dậy th́. Ngài không chấp nhận kiểu nói chơi của
cha ngài và h́nh như coi như mẹ ngài cũng không để ư. Chúng
ta cũng không biết trong thời ấy người ta nghĩ như thế nào.
Nhưng có lẽ sự lo lắng về dục t́nh làm cho ngài luôn khắc
khoải đă khởi đầu trong thời gian này.
Một điểm thứ
hai là lương tâm nhậy bén của ngài. Chúng ta không nghĩ rằng
đây là quan niệm của một người trung niên cho ta thấy cảnh
một cậu bé 16 phải hối hận giày ṿ v́ ăn trộm vài trái đào
của người hàng xóm. Phần lớn bạn bè của cậu đă quên điều đó
vào lúc cuối tuần. Nhưng ta thấy 27 năm sau Augustin c̣n hối
hận về chuyện đó. Từ kinh nghiệm đó chúng ta có thể rút ra
nhiều bài học cho độc giả ngày nay.
1. Đam mê sai
lạc của tuổi 16.
Khi tôi được
16, cuộc đời tôi đến một khúc quanh. Bạn bè tôi đă thấy tôi
bị nguy hiểm trở thành kẻ vô luân, nhưng thay v́ khuyến cáo
tôi, hay nói về hôn nhân như một giải quyết hợp lư, th́ họ
chỉ lo cho tôi trở thành nhà hùng biện, giàu có và danh
tiếng.
Cha tôi không
giàu hay danh giá nhưng ông rất rộng răi với tôi và trả tiền
cho tôi du học tại Carthage. Tôi không phê b́nh ông và cũng
không vô ơn v́ nhiều cha mẹ giàu có hơn ông nhưng lại không
làm ǵ cho con cả. Nhưng tôi phải nói là ông không lo ǵ cho
cuộc sống luân lư của tôi cũng như việc không có niềm tin
Kitô giáo của tôi. Không có ǵ là giá trị chỉ cần tôi trở
thành con người có học. Thực là một ước vọng hăo huyền.
Cha tôi biết
tôi không c̣n là đứa nhỏ nữa. Như thế là ông có thể có cháu
nội. Ông hănh diện v́ tôi thành đàn ông. Tôi nghe ông cười
phở lở với mẹ tôi dù cho lúc đó ông đang say rượu.
Đúng ra lúc đó
ông đang học đạo. Nhưng mẹ tôi là người đạo ḍng bà phải
thấy nguy hiểm đó rất rơ ràng. Bà biết tôi chưa là một kitô
hữu và lo lắng v́ thấy cuộc sống tôi cứ như thế khó mà quay
trở lại.
Bà thường bảo
ban tôi và điều bà nói, bây giờ tôi biết rơ là chân lư của
Chúa. Nhưng bà không cấm cản tôi một phần v́ bà theo chồng
và đàng khác bà cũng đặt hi vọng nơi tôi rất nhiều. Không hi
vọng về cuộc sống tinh thần nhưng về danh tiếng trong đường
học vấn. Cả hai thúc đẩy tôi theo học, cha tôi v́ ông không
nghĩ ǵ đến Chúa, c̣n mẹ tôi th́ bà hi vọng tôi học giỏi sẽ
t́m ra Chúa. Họ có những lư do lẫn lộn và những tham vọng ưu
tiên sai lạc. Đó chỉ là thứ tham muốn thường t́nh cho tôi,
nhưng rất nguy hiểm v́ đạt mục đích.
2. Tại sao ta
phạm tội ?
Khi tôi được
16 tuổi bạn bè tôi và tôi thường rong chơi vào vườn bên cạnh
có cây lê sai trái. Chúng tôi thường rung cây cho trái lê
rơi xuống đất. Chúng tôi không thèm ăn mà ném cho lợn. Điều
thích thú không phải là những trái lê đó mà chính là niềm
vui v́ đă lấy trộm. Thực là h́nh ảnh của tội nhân loại.
Không thể chối
bỏ tội lỗi trong cuộc sống hàng ngày. Vàng bạc làm chói loà
con mắt. Đụng tới xác thịt con người th́ ấm áp và thích thú.
Được khen hay thi hành quyền bính trên kẻ khác cho chúng ta
nhiều thoả măn. Và không có ǵ là sai lạc tự nội tại trong
khả năng của con người được sảng khoái.
Nhưng chúng
con không được điều mang lại khoái lạc khi chúng con không
thèm biết đến luật Chúa, Chúa ơi hay vi phạm luật đó. Tội sẽ
phát sinh khi t́m kiếm cái tốt nhỏ bé nhưng coi như mục đích
cuộc đời. Khi t́m kiếm tiền bạc, cảm t́nh hay quyền lực bằng
phương pháp thái quá sẽ sinh ra tội lỗi.
Như thế khi ta
hỏi ḿnh tại sao trong trường hợp đó, chúng ta phạm tội th́
có hai câu trả lời. Hoặc là chúng ta muốn được cái không có
hay ta sợ mất cái ta có. Chẳng hạn khi giết người. Một ngừơi
giết người khác. Có phải v́ muốn đoạt vợ hay điều ǵ khác mà
họ có và họ sửa soạn để có ? Hay họ sợ người khác đoạt vợ
hay của cải và địa vị của họ.
Tôi giả thiết
c̣n thêm lư do để trả thù nữa. Chúng ta không thể tin là
người đó giết chỉ v́ khoái giết. Chúng ta giết có lư do quan
trọng. Phần lớn có liên quan đến khoái lạc thế tục, vẻ đẹp
của vàng bạc, danh dự hay t́nh trạng trước mắt thế gian,
khoái lạc khi va chạm xác thịt, niềm vui làm bạn với con
người và những liên hệ của cải.
Những cái đó
mang lại khoái lạc và có vài điều tốt lành, có thể hoàn toàn
tốt lành nếu được nó không vi phạm ư Chúa hay luật ngài.
Nhưng theo đuổi chúng chỉ v́ chúng là tà dâm tinh thần : t́m
chính khoái lạc cho ḿnh, buông thả cho ḿnh, và xa cách
Thiên Chúa. Hăy lấy vài thí dụ. Kiêu ngạo lo làm cho ta lên
đỉnh cao. Nhưng trên đỉnh cao không c̣n chỗ trống. Có Chúa ở
đó và Chúa rất tối cao. Tham vọng dẫn ta t́m quyền lực và
vinh quang nhưng vinh quang quyền lực là của Chúa, Chúa ơi.
Những người lăng loàn t́m trong vô vọng t́nh yêu đáp trả
nhưng không thể t́m thấy t́nh yêu Thiên Chúa được trao ban
tự do và không có điều kiện.
Có người t́m
sự đơn sơ và vô tội (tuy nhiều khi cái họ kiếm t́m chính là
dốt nát ngu muội) Tuy nhiên không có ǵ đơn giản bằng Chúa
cũng không ai vô tội như Chúa luôn chống lại sự dữ. Người
lười t́m nghỉ ngơi nhưng chỉ có nghỉ ngơi thực trong Chúa.
Có người luôn t́m kiếm khoái lạc trong kinh nghiệm cảm giác
nhưng chỉ có khi ở bên phải ngài mới có khoái lạc vĩnh cửu.
Ḷng ta khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên bên Chúa. Chúng
ta thường lẫn lộn quảng đại với phung phá nhưng Chúa là Đấng
rất quảng đại lại không phung phí ǵ cả. Ta mong có của
nhưng Chúa đă có mọi sự. Chúng ta buồn v́ đánh mất cái ta ưa
thích. Ta quên là chỉ trong cơi vĩnh cửu mọi sự mới thuộc về
ta măi măi.
Nói cách khác,
tội xuất hiện khi ta có một khát khao tự nhiên hay ao ước
hay tham vọng và cố gắng trong vô vọng thoả măn không cần
Chúa. Không những đó là tội nhưng c̣n làm sai lạc h́nh ảnh
Chúa trong ta. Tất cả những điều tốt lành đó và mọi sự yên
ổn của ta chỉ có thể t́m thấy chính đáng và hoàn hảo nơi
Ngài.
3. Chúa thương ta hai lần.
Làm sao người khác có thể làm chuyện tôi đă làm: thích thuú
v́ điều sai quấy chỉ v́ nó sai quấy? Tôi ăn trộm trái lê mà
tôi không thích nhưng tôi thích thú v́ hành động ăn trộm.
Lạy Chúa con cám ơn Chúa v́ đă tha thứ cho mọi hành vi xấu
của con.
Và con cám ơn Chúa v́ ḷng nhân từ và ơn sủng đă ǵn giữ con
khỏi những tội xấu xa hơn v́ chắc chắn người phạm tội nhẹ có
thể phạm những tội c̣n lớn lao hơn là ăn trộm vài trái lê,
không chỉ muốn những hậu quả tội lỗi mà c̣n chỉ khoái trá v́
đă phạm tội. V́ thế con tạ ơn Chúa đă tha tội cho con, những
tội con đă phạm mà v́ cả những tội con có thể phạm mà nhờ
Chúa giúp con đă không phạm.
Làm sao con người có thể tự hào là do sức mạnh tinh thần của
ḿnh mà họ có thể trong sạch và vô tội? Sao họ không ư thức
sự yếu đuối nội tâm và họ yếu đuối biết bao trước cơn cám
dỗ? Trong mọi trường hợp, kết quả của sự tự tín đó là họ
không biết ơn Chúa. Họ yêu Chúa ít v́ họ không biết Chúa yêu
họ như thế nào. Chúa không chỉ tha thứ tội lỗi mà c̣n giải
thoát họ khỏi tội. Cả hai hành động cho thấy Chúa thương họ.
Thương người làm quấy và cũng thương người có thể làm quấy
nhưng nhờ ơn Chúa họ không làm.
4. Bạn bè xấu.
Nghĩ lại tôi thấy không bao giờ tôi ăn trộm trái lê nếu chỉ
có ḿnh tôi. Tôi thực sự sướng run lên khi ăn trộm nhưng c̣n
thích thú v́ cả nhóm bị kích thích. Tôi không tin ḿnh có
thể ăn trộm trái cây nhưng v́ bè bạn tôi đă làm chuyện ấy.
Tôi không nói ḿnh không có khả năng phạm tội do chính ḿnh,
nhưng trong trường hợp này, không có thoả măn hay phần
thưởng cá nhân, và như thế không có lư do thúc đẩy cá nhân.
Như tôi đă nói tôi không thích trái lê.
Vậy tại sao có bạn bè lại làm cho ứơc ao có hành động ấy?
Không phải tôi ưa thích bạn bè cách đặc biệt hay vui thích
khi có họ. Nhưng cùng làm th́ thú vị lắm. Chúng tôi cười ngả
nghiêng và tưởng tượng ra cái cảnh chủ nhân sẽ nói ǵ khi
thấy như thế. Chúng tôi cùng tự hào về phương pháp chúng tôi
làm hay hơn và đi khỏi với kỳ công đó.
Những chuyện đó không xảy ra cho chúng tôi v́ chúng tôi.
Chúng tôi không cười nhiều v́ chúng tôi hay tự hào v́ chúng
tôi. Nhưng khi lũ nhăi ở với nhau điều thích thú trước nhất
sẽ dễ trở thành điều tàn ác, quá đáng hay xấu xa. Không có
lư do hay động lực nào hơn là sợ khác người, sợ cô độc, hay
bị coi là hèn nhát. Chúng tôi xấu hổ v́ ḿnh không có ǵ
phải mắc cỡ.
Một lần nữa, đây là h́nh ảnh cho thấy bản tính nhân loại sa
ngă, v́ t́nh bạn hay sự thân ái, là hồng ân của Chúa, có thể
dễ dàng trở nên xấu xa. Như thế t́nh bạn có thể quyến rũ ta
và lôi kéo ta sai lạc.
C̣n lạy Chúa người làm bạn với Chúa sẽ cảm thấy niềm vui.
Làm bạn với Chúa sẽ có thoả măn an ninh và hạnh phúc. C̣n
không làm bạn với Chúa, như tôi đă khám phá ra trong những
ngày xa xưa tăm tối, cuộc sống chỉ là sa mạc khốn khổ.
Chương 2. Vật lộn với chân lư
Chương này kể lại giai đoạn quan trọng trong cuộc đời
Augustin, những năm học ở Carthage. Tại đây qua những tác
phẩm của Cicero ngài học biết là việc theo đuổi sự khôn
ngoan quan trọng hơn uy tín hay của cải vật chất. Ư nghĩ này
không bao giờ rời xa ngài, và thực sự đă trở thành căn bản
cho việc t́m kiếm chân thành chân lư trong suốt cuộc đời
ngài.
Nhưng cũng tại Carthage, khi chỉ mới có 17 tuổi, Augustin có
người yêu. Một năm sau cô này mang thai và sinh ra người con
tên là Adeodatus. Từ đó, dù cho đôi khi ngài khinh bỉ ḿnh
về chuyện đó, ngài thấy ḿnh không có thể sống không có bồ.
Ngài trung thành với người yêu đầu đời này trong ṿng 15 năm
dù sau này khi định lập gia đ́nh ngài chọn cô khác. Sự yếu
đuối này theo ngài là gánh nặng thường xuyên cho Ngài và đôi
khi là chướng ngại cho việc trở lại. Augustin làm thày giáo
một thời gian ngắn trong thành phố quê hương khi một người
bạn chết gây cho ngài một ấn tượng mănh liệt. Rồi khi có
“job” thơm tại Roma, ngài đă sống nhiều năm sôi động với một
nhóm bạn bè tại đây. Họ coi ḿnh như những người t́m kiếm
chân lư nhưng theo ngài “họ không cho rằng trí khôn của họ
là món quà của Chúa”.
Phái Manicheism Augustin theo một thời gian chỉ là Kitô giáp
thoái hoá bác bỏ mọi ư niệm về Thiên Chúa hiện diện trong
vật chất hay con người. Như thế Augustin coi việc nhập thể,
với h́nh ảnh Thiên Chúa mang lấy thân xác con người nơi Chúa
Giêsu, ngôi lời nhập thể, là một chuyện hoàn toàn không thể
chấp nhận được. Manicheism chỉ là một trong các lạc giáo
trong thời đó, và khi Monica cầu nguyện cho Augustin t́m
thấy mái ấm trong giáo hội công giáo, bà nghĩ là giáo hội
này vẫn trung thành với giáo huấn các tông đồ, chính thống,
giáo hội của kinh thánh luôn đứng vững trước những tư tưởng
lạ kỳ hay chóng qua.
Cuối chương ta thấy Augustin bước thêm một bước: đoạn tuyệt
phái Manicheism. Rồi có job mới quan trọng ở Milan ngài bị
ảnh hưởng của giám mục Ambrose và quyết định học đạo.
5. Chân lư quan trọng
Khi tôi học tu từ ở Carthage tôi đọc cuốn sách của triết gia
Cicero. Tôi đọc cuốn ấy v́ người ta cho rằng văn chải chuốt
và lư luận có tính cách thuyết phục và tôi đang muốn có
những tài năng đó. Điều tôi không ngờ là ảnh hưởng của cuốn
sách này trong cuộc đời tôi. Tôi phải nói không phóng đại là
cuốn sách đă thay đổi toàn thể thái độ của tôi về cuộc sống.
Cuốn sách nhan đề Hortensius và thực sự là lời kêu gọi độc
giả yêu mến sự khôn ngoan hay điều mà người hi lạp gọi là
“philosophia”. Hậu quả của cuốn sách thực bi thương cho tôi
v́ kích thích những khát vọng tôi chưa hề có bao giờ. Tôi
thấy sự hùng biện, nói như thế nào, không quan trọng bằng
chân lư, điều ta nói. Nói cách khác cách nói là phụ thuộc
điều ta nói mới là chính yếu.
Cicero đă cho tôi ḷng khao khát mạnh mẽ bỏ đi những sự vật
vật chất hay thế tục để theo đuổi sự khôn ngoan. Tiếng hi
lạp Philosophia có nghĩa là yêu mến sự khôn ngoan và tôi bị
lay chuyển, ngay cả bị thiêu đốt, không phải về những sự tin
tưởng này kia, nhưng v́ t́nh yêu t́m kiếm khám phá ra và giữ
vững chân lư dù chân lư như thế nào.
Lúc đó tôi được 19 tuổi và mẹ tôi chu cấp tiền nong, cha tôi
đă qua đời trước đó hai năm. Mẹ tôi mua cho tôi tài hùng
biện nhưng Cicero thuyết phục tôi có điều c̣n quan trọng hơn
văn thể. Lúc đó tôi bắt đầu vươn lên ra khỏi vực thẳm tôi đă
rớt xuống. Tôi chưa biết thư của thánh Phaolô hay kinh
thánh, với lời cảnh cáo đừng để cho triết lư sai lạc phỉnh
phờ chỉ theo truyền thống của nhân loại, nhưng Cicero cảnh
cáo rằng có những thứ vô luân lư được mặc bằng những lư luận
phỉnh phờ và kêu vang và cũng có tên là triết lư.
Chỉ có một điều làm tôi cẩn trọng không theo Cicero hoàn
toàn: ông không nói ǵ về Chúa Kitô. Dù tôi chưa có đức tin
nhưng tôi đă bú sữa mẹ với thánh danh đó.Tên ngài ăn sâu vào
tâm tưởng tôi nên tôi không bao giờ hoàn toàn bị khuất phục
với luận cứ nào dù bác học và hùng biện cách mấy, nếu không
dành cho Chúa Kitô một chỗ trong cuộc tranh luận.
Hậu quả của việc đọc sách người không công giáo này làm tôi
quyết định đọc thánh kinh để xem sách này như thế nào và có
thể giúp cho tôi t́m ra sự khôn ngoan hay không? Lúc đó tôi
rất tự hào về việc đó. Thánh kinh là cuốn sách dành cho
những kẻ khiêm nhượng tuân phục những mầu nhiệm sâu xa của
Chúa. C̣n tôi th́ đến với thánh kinh với việc phê b́nh và
kết luận rằng thánh kinh không thể so sánh với Cicero về
ngôn ngữ hay ư tưởng siêu việt.
Tôi đâu có biết thánh kinh không tỏ lộ mầu nhiệm cho những
con mắt kiêu ngạo. Sự kiêu căng của tôi từ chối hạ ḿnh. Tôi
không nghĩ rằng Kinh thánh lớn lên với trẻ nhỏ từng bước, và
tiến lên theo từng giai đoạn. Chân lư đơn giản cho người đơn
sơ, chân lư sâu xa cho người trưởng thành. Tôi chắc chắn
ḿnh đă trưởng thành nên tôi đă mất mát.
6. Giấc mơ của mẹ
Khi c̣n trẻ từ chối niềm tin của mẹ và làm thất vọng cho lời
cầu nguyện của bà, Chúa đă cho mẹ tôi một thị kiến. Xảy ra
trong lúc mẹ tôi đang rất lo lắng về tôi, mẹ khóc cho tôi
c̣n hơn bà mẹ mất đứa con một. Theo mẹ tôi đă chết, chết v́
không tin, chết về tinh thần. Kết quả là bà không thể đem
tôi ngồi cùng bàn ăn với bà hay về nhà. Bà không chịu nổi
những câu nói lộng ngôn của tôi hay những sự đả phá của tôi.
Rồi trong một giấc mơ bà có một thị kiến. Bà thấy ḿnh đang
đứng trên sàn gỗ. Một thanh niên có thể là một thiên thần
đến với bà. Bà đang lo lắng cùng cực về tôi; c̣n chàng trai
có vẻ thân t́nh và tích cực. Anh ta hỏi bà có chuyện ǵ và
bà cho hay ḿnh đang lo lắng cho đứa con đang tiêu huỷ cuộc
đời khi từ chối Thiên Chúa. Câu trả lời của chàng trai làm
bà ngạc nhiên. Chàng đề nghị cho bà khỏi lo lắng nên quay
lại và nh́n xem tôi đứng chỗ nào. Bà làm thế và sửng sốt
thấy tôi đang đứng cạnh bà. Thiên thần chỉ cho thấy bà ở đâu
tôi cũng ở đó. Bà coi lời nói của chàng trai như một bảo đảm
trực tiếp từ Thiên Chúa là ngài đă nghe lời bà cầu xin cho
tôi và mọi sự sẽ tốt đẹp.
Tôi tin là Chúa soi sáng cho bà trả lời cho tôi khi tôi bi
quan giải thích giấc mơ. Tôi nói là như thế là một ngày kia
bà cũng sẽ có tôn giáo như tôi dù cho là tôn giáo nào. Bà
liền trả lời ngay: “Không, mẹ không nghe nói “anh ta ở đâu
bà ở đó” nhưng “bà ở đâu anh ta sẽ ở đó”.
Câu trả lời đó gây ấn tượng rất sâu xa cho tôi trong thời
gian đó và tôi thường nhớ lại trong thời gian chín năm sau
đó khi tôi đang đi trên con đường tăm tối của sai lầm và vô
tín. Trong khi đó người phụ nữ đạo đức và trung thành tiếp
tục cầu nguyện cho tôi, với nhiều lạc quan hơn, tuy cũng c̣n
nhiều đau khổ và khóc lóc v́ cuộc sống của tôi.Và lời cầu
của mẹ tôi đă được nhận lời và một hôm tôi đă đứng tại chỗ
bà đứng sau 9 năm phản loạn.
7. Giă từ thiên văn
Trong thời gian học tu từ tôi đi thi làm thơ. Trước khi thi
tôi được một thày bói hỏi tôi trả ông ta bao nhiêu để ông
thu xếp cho tôi thắng giải. Tôi thường ghét khoa học huyền
bí nhất là việc giết con vật để xin ơn thần minh.
Tôi trả lời cho ông nói rằng nếu giá cả là vàng ṛng và bất
tử tôi cũng không đồng ư cho một con ruồi phải chết dù cho
để tôi được giải. Dĩ nhiên tôi không có quan điểm theo Kitô
giáo. Khác hẳn thế tôi lại là người chúa mê tín như những
người theo khoa vô h́nh. Điều này đúng v́ tôi theo khoa
thiên văn. Tôi nghĩ rằng khoa này tốt hơn v́ không phải cúng
tế súc vật hay cầu nguyện với thần linh. Điều tôi không thấy
là tại sao khoa thiên văn có liên quan đến căn bản trách
nhiệm của con người. Chẳng hạn như nói “không phải lỗi tại
tôi, do ngôi sao quyết định” hay Sao Venus, Saturn hay Mars
đă định như thế, không phải do yếu đuối hay tội lỗi” Làm cho
tôi chỉ là thịt và máu và hănh diện v́ sự hư hỏng không c̣n
tội lỗi ǵ. Đấng tạo dựng trời và tinh tú bị trách cứ trong
bất cứ việc ǵ tôi làm. Và ai là Đấng Tạo hoá đó nếu không
phải là Chúa, trung tâm và nguồn gốc cho sự công chính?
Tuy nhiên trong thời gian đó tôi gặp một thày thuốc tên là
Vindiciamus và tôi cảm phục ông. Lúc đó ông là tổng lănh sự
và trong khi c̣n tại chức ông trao giải thưởng cho tôi, đặt
ṿng thiên tuế trên đầu tôi. Chắc chắn đầu óc tôi cần một
bác sĩ lưu ư, tuy ông không biết lúc đó.
Dù sao Chúa cũng dùng ông già đó kéo tôi ra khỏi t́nh trạng
tự huỷ diệt. Ông nói chuyện có duyên. Ông không dùng một lời
nào thừa thăi cả và có lương tri sống động quân b́nh cái
trọng cái khinh cách hoàn hảo.
Khi ông thấy tôi mê tử vi ông khuyên tôi vứt lá số đi. Ông
cho hay tôi nên dùng thời giờ cho những chuyện nên làm hơn
là cho những chuyện vớ vẩn.
Ông kể cho tôi về kinh nghiệm của ông. Khi c̣n trẻ ông tính
theo nghề tử vi. Ông học sách Hippocrates làm cho khoa tử vi
thành giản dị. Tuy nhiên sau đó ông bỏ hoàn toàn và học y
khoa. Lư do của ông rất đơn giản. Ông thích nghĩ ḿnh là
người lương thiện và như thế không muốn làm tiền bằng lọc
lừa. Ông khám phá ra khoa tử vi luôn đánh lừa. Theo ông nói
khoa này hoàn toàn bá láp.
Ông khuyên tôi bỏ khoa tử vi. Ông lư luận: “Nhất là tu từ là
nghề của cậu và cậu có thể sống nhờ nghề đó. Cậu không nên
thực hành nghề chuyên lừa lọc này; chỉ là thú tiêu khiển
thôi. Hăy nghe lời người đă học nghề đó kỹ lưỡng, sống bằng
nghề đó mà cũng phải bỏ như tôi.”
Tôi chú ư đến sự lưu tâm của ông nhưng c̣n muốn biết tại sao
khoa này sai lầm mà nói trúng thế. Ông nói đó chỉ là may ăn
may vớ cũng vô lư như bói Kiều. Đôi khi câu thơ có thể áp
dụng, nhưng chung chung thôi. Nhưng chỉ là may rủi v́ thi sĩ
đâu có muốn hướng dẫn ta.
Lúc đó Vindicianus không thuyết phục nổi tôi. Tôi c̣n bị mê
hoặc v́ bao nhân vật thời danh sáng láng xem tử vi. Tôi thấy
khó mà tin khoa này dựa trên sự may rủi. Nhưng ông đă gieo
mầm mống hoài nghi trong ḷng tôi.
Ít lâu sau tôi mới xác tín là Vindicianus và người bạn khác
là ông Nebridius cả hai đều hoài nghi về giá trị khoa tử vi
là đúng. Những trường hợp làm cho tôi kết luận như thế thật
kỳ lạ.
Tôi có người bạn thân tên là Firminus đến giúp tôi. Anh muốn
làm ăn khá giả và xin tôi chấm sao cho anh. Cũng như tôi anh
đang học nghề tự do và tu từ, và cũng như tôi anh say mê tử
vi nhưng cũng hơi nghi ngờ về khoa này.
Tôi đồng ư chấm sao cho anh nhưng thêm rằng tôi không c̣n
tin là chính xác nữa. Anh mới kể cho tôi nghe câu chuyện của
cha anh. Nhiều năm trước cha anh và người bạn học tử vi rất
nghiêm túc. Họ cẩn thận đến nỗi luôn có mặt khi có ai sinh
ra trong nhà để ghi chú giờ đúng và so sánh với lá số.
Khi mẹ Firminus có thai ông bạn của cha ông cho hay một đứa
nô lệ gái cũng có thai. Họ quyết định theo dơi hai đứa trẻ
sắp sinh ra rất cẩn thận, và so sánh hai lá số.
Hai đứa nhỏ sinh ra trong cùng một giờ tuy ở hai nhà khác
nhau. Cả hai đều là con trai và một đứa tên là Firminus, bạn
tôi sau này. Nhưng anh biết trong một thành phố xa khác có
một chàng trai cùng tuổi cũng một lá số nhưng đang sống một
cuộc sống khác hẳn.
Điều này làm Firminus khó chịu. Tại sao nếu hai đứa cùng
sinh ra cùng một lá số mà có cuộc sống khác nhau như thế?
Anh ta giàu có, có văn hoá, thành công, c̣n anh kia vẫn là
nô lệ, nghèo khó, không được ăn học, và phải chật vật trong
cuộc sống.
Nhưng tôi cho anh hay, t́nh trạng rất phức tạp. Ở đây chúng
ta đoán xem anh ta có được công việc mong ước hay không.
Nhưng tại sao lá số cho anh được mà lại không cho anh chàng
nô lệ kia không được? Nếu có ǵ hữu lư trong khoa tử vi th́
hai anh chàng phải có cuộc sống giống nhau, trái lại cuộc
sống họ hoàn toàn khác nhau.
Kết quả thực rơ ràng. Khi tôi chấm sao cho Firminus tôi
không thể cho anh lá số khác với tên nô lệ có cùng lá số và
nếu khoa học này đúng th́, có cùng lá số tại sao đúng cho
anh ta và sai cho tên nô lệ.
Điều này làm cho tôi nghĩ đến những người sinh đôi, cùng
sinh trong một cung sao nhất là về Esau và Giacob trong sách
Sáng thế, tại sao tính khí và định mệnh khác nhau như thế.
Chúng tôi kết luận là tất cả đều vô lư.
Lạy Chúa, chắc hẳn, chỉ có chân lư trong tay Chúa. Không ai
có thể nói “điều ǵ sẽ xảy ra?” Trong sự khôn ngoan tuyệt
diệu của Chúa,Chúa quyết định kết quả cho những biến cố và
định mệnh cho mỗi cá nhân.
8. Giọt lệ đắng cay
Trong thời gian dậy học tại tỉnh nhà, tôi có người bạn thân.
Chúng tôi biết nhau hồi c̣n trẻ rồi qua trung học và đại học
với nhau. Chúng tôi cùng học và cùng chơi, thú vị v́ làm bạn
với nhau và thách thức nhau trong thái độ hay suy nghĩ.
Dù bạn tôi là Kitô hữu từ nhỏ tôi làm cho anh ta bỏ đạo và
rất thú vị về việc đó. Chúng tôi cùng sung sướng với nhau v́
không tin ǵ. Tuy nhiên, đường lối Chúa như thế, t́nh bạn
của chúng tôi bị thử thách. Anh bị lây bệnh và nóng lạnh cho
đến khi bất tỉnh. Bác sĩ nói anh không thể khỏi bệnh được.
Lúc đó dù anh không ư thức anh được rửa tội. Thân nhân cho
rằng anh đă muốn được rửa tội trong niềm tin thời thơ ấu.
Theo tôi đó là chuyện vô nghĩa. Nếu tôi đă thuyết phục anh
không tin ǵ th́ việc xối nước trên anh đâu có ư nghĩa ǵ.
Tuy nhiên sự thực khác hẳn. Anh tỉnh lại và khoẻ hẳn nên có
thể tranh luận với tôi về điều đă xảy ra và cảm nghĩ của anh
về chuyện đó. Khi có dịp nói với anh tôi mạnh mẽ nhạo báng
phép rửa tội anh lănh nhận mà người ta cho là anh đồng ư.
Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi nghe anh nói là tôi không nên
nói thế nếu muốn c̣n là bạn của anh. Thế là tôi không nói
nữa hi vọng khi anh khoẻ hẳn tôi sẽ có dịp nói với anh về
chuyện vô nghĩa trên.
Tuy nhiên không phải như thế. Ít ngày sau anh ta sốt trở lại
và qua đời.
Tôi ngạc nhiên v́ thái độ của tôi. Ḷng tôi tăm tối và mọi
sự tôi thấy h́nh như giơ ra bộ mặt đen tối của thần chết.
Mọi điều chúng tôi cùng hưởng trở nên sự hành hạ, khi anh
không c̣n đó chung hưởng với tôi. Tôi không thể nói ǵ với
ḿnh về niềm hi vọng vào Chúa. Tôi chỉ biết khóc cho vơi
sầu, và lệ sầu không ngưng. Lệ chua xót nhưng cũng là một
lời tạ lỗi và cầu nguyện.
Mọi sự nhắc nhở tôi về anh: nơi chúng tôi cùng đi, sân chơi,
pḥng hoà nhạc,sách vở, bữa ăn, ngay cả khi chơi gái. Tôi
vẫn c̣n măi cảm nghĩ mất mát. Tôi không thể trốn chạy chính
ḿnh nên đành làm điều tốt nhất.Tôi rời Tagaste đi Carthage.
Tại đây, chắc chắn thời gian là liều thuốc nhiệm mầu xoa dịu
cảm giác và an ủi tinh thần.
Khi hết buồn tôi có thể nh́n lại kinh nghiệm. Tại sao tôi
đau đớn nhiều? Tại v́ tôi đă nhỏ lệ cho chiếc giường cát đă
yêu một người mà ngày nào đó sẽ chết nhưng coi như họ bất
tử. Điều tôi học hỏi sau này c̣n quan trọng hơn. Con người
hạnh phúc đó là người đă yêu Chúa, lạy Chúa. Chúa bất tử và
không thay đổi, anh đă yêu bạn bè chỉ trong Chúa và yêu kẻ
thù v́ Chúa.
9. Chúa của vẻ đẹp
Tâm hồn con người hướng về đâu nếu không phải về Chúa nếu
không sẽ chỉ đớn đau. Đây là chân lư ngay khi cả họ dính bén
với những vẻ đẹp nhất Chúa đă dựng lên như cây cối, bông
hoa, lá cây hay mầm cây. Mọi sự đều có mùa thu và mùa xuân:
mùa xuân khi nở rộ hoàn hảo và mùa thu khi héo tàn và chết.
Bản tính của thụ tạo là thế.
Như vậy thật điên khùng khi dính bén với thụ tạo tuân theo
luật chết. Tôi có thể ca tụng Chúa v́ vẻ đẹp của chúng nhưng
phải nhận ra chúng sẽ mau vào quên lăng. Kêu lắm lại càng
tan tác lắm. Đây là con đường của thế gian, cái này thay cái
khác không ngừng, vật này nhường chỗ cho vật kia.
Lời của Chúa hỏi rằng: “Ta sẽ ra đi không ?”Chúa không bỏ
rơi vật ngài sáng tạo nhưng hiện diện trong nó để khi ta t́m
khoan khoái trong đó th́ cũng t́m thấy khoan khoái trong
người. Theo căn bản đó chúng ta có thể xây dựng và yêu thụ
tạo nhưng tốt nhất là yêu Chúa trong thụ tạo.
Hơn nữa, sự sống thực duy nhất của ta, Con Thiên Chúa, đă
đến hành tinh của ta để mang lấy sự chết, cái chết của một
thụ tạo, nhưng qua quyền lực sự sống nơi ngài đă chiến thắng
sự chết. Ngài dùng tiếng sét kêu gọi ta trở lại. Và dù ngài
đă về trời ta c̣n t́m thấy ngài trong ḷng ta, hiện diện
trong cuộc sống ngài đă tạo dựng và cho nó một cuộc sống
mới.
10. Sự khôn ngoan vĩnh cửu
Khi được 20 tuổi con rất thoả măn v́ đọc được cuốn 10 phạm
trù của Aristote và hiểu được không cần thầy dạy. Khi có dịp
con thường đề cập đến cuốn sách đó, không nói tới nhan đề
với một chút sợ hăi và mỉm cười khi thấy ông thầy cho rằng
họ rất khó khăn khi đọc cuốn đó.
Và cuốn sách đă mang lại lợi ích cho con. Tuy nhiên nó cũng
có hại v́ nó khuyến khích con nghĩ đến Chúa, lạy Chúa, như
Chúa chỉ là một phần của những ǵ Chúa tạo dựng thay v́ là
căn bản và nguồn gốc. Đáng buồn thay, con quay lưng lại ánh
sáng và mắt con đăm đăm vào cơi tối. Con có thể hiểu không
mấy khó khăn khoa luận lư, tu từ, h́nh học, âm nhạc, toán
pháp nhưng con không thấy rằng chính trí khôn con là hồng ân
của Chúa và mọi chân lư đều do Chúa là nguồn gốc.
Ích lợi ǵ khi tôi hiểu biết nhưng tôi không làm lành mà
chạy theo sự dữ? Tôi không hiểu biết ǵ những người tôi coi
là đơn sơ nhưng họ hơn tôi, tuy không có trí khôn như tôi
nhưng tín thác vào Chúa và nương ẩn an toàn trong tổ ấm giáo
hội.
11. Người mẹ cầu nguyện
Vào thời gian đó tôi ngă bệnh tưởng chết. Nếu tôi chết chắc
chắn tôi sa hỏa ngục, v́ tội tôi không được tha v́ không
thống hối, và không thống hối v́ không thấy rằng làm sao
Chúa Kitô mang lấy tội tôi trong thân xác người, v́ tôi
không thực sự tin rằng ngài có một thân xác. Tôi bị ảnh
hưởng của phái Manichee và nghĩ như họ là Chúa Kitô chỉ có
một thân xác thần linh, thiên thần hơn là thân xác con người
với thịt và máu.
Mẹ tôi không biết tôi tin ǵ cũng không biết tôi bị bịnh ǵ
nhưng như thường lệ mẹ tôi vẫn cầu nguyện cho tôi khi tôi
vắng mặt: vắng nhà và xa vắng giáo hội mà mẹ tôi luôn gắn
bó. Nh́n lại, tôi không thể tin rằng Chúa đă bỏ qua hay từ
chối lời cầu nguyện của bà, lời cầu nguyện đau đớn và có giá
trị từ môi miệng của bà như sự sinh con từ cơi ḷng. Làm sao
Chúa có thể làm ngơ trước lời cầu của bà goá phụ thống hối
và khiêm nhường, quảng đại với người khác, giản dị phục vụ
giáo hội, ngày ngày đi lễ hai lần trong ngày đến nhà thờ cầu
nguyện và nghe tiếng Chúa? Làm sao Chúa có thể nhắm mắt khi
bà khóc, những giọt lệ khẩn khoản không phải xin vàng bạc,
hay danh vọng trần gian mau qua, nhưng chỉ cho đứa con xa
lạc được cứu rỗi? V́ thế để đáp lại lời nguyện âm thầm của
bà Chúa chữa tôi lành và cho tôi chỗi dậy. Tại Roma, cùng
với bạn bè với niềm tin xa lạ, Chúa đă gặp tôi và đánh động
tôi. Nhưng tôi vẫn không lay chuyển. Tôi kiêu ngạo đến nỗi
coi ḿnh không có tội. Theo niềm tin của phái Manichee tôi
bảo tôi không có tội theo quan điểm là không phải tôi phạm
tội nhưng nguyên lư sự dữ hiện diện vật lư trong tôi phạm
tội, trong khi thực ra tôi duy nhất và chính do sự không
vâng lời tội lỗi của tôi đă tạo nên xung đột nội tâm đó.
Nhưng trong lúc đó tôi không chấp nhận điều ấy. Tôi đă phá
hủy sự tự tin.
V́ thế việc khỏi bịnh không đem tôi đến gần Chúa ngay. Hơn
nữa tôi lại theo tư tưởng của giới trí thức Roma thời đó cho
là ta nên nghi ngờ mọi sự và đặt vấn đề trong mọi sự v́ con
người không thể hiểu được chân lư tối hậu. Đồng thời tôi
không thèm để ư đến những phức tạp do quan niệm ấy. Ông chủ
nhà tôi ở hoàn toàn tin theo những câu chuyện trong sách của
nhóm Manichee nhưng tôi không bảo ông nên nghi ngờ khi đọc
những chuyện đó. Chính tôi lại nghi ngờ những chuyện đó hơn
và tôi cũng không binh vực lư thuyết đó hăng hái như xưa.
Thật đáng buồn khi tôi hoàn toàn không muốn quay về với giáo
hội để t́m câu trả lời, thất vọng trong việc t́m ra chân lư
Kitô giáo mà bạn bè tôi đă làm tôi xa cách, và c̣n dậy giáo
thuyết mà tôi ghê tởm là chính Thiên Chúa là thần linh đă
mang lấy thịt máu nơi con ngài. Chắc chắn tôi nghĩ rằng Chúa
Kitô sinh ra trong xác thịt cũng bị xác thịt làm nhơ uế. Ư
nghĩ đó làm tôi chống đối. Nhưng ít ra tôi suy nghĩ và hỏi
han. Và Mẹ tôi vẫn cầu nguyện.
12. Quyết định quan trọng
Tôi bối rối tí chút. Dần dần tôi thấy những ư tưởng của phái
Manichee rất yếu ớt. Họ không thể trả lời cho những đoạn
Kinh thánh mà bạn bè có đạo chỉ cho tôi. Họ c̣n nói tân ước
đă bị sai lạc do người nào đó, họ không nói là ai, muốn ḥa
hợp luật do thái với tin mừng. Nhưng họ lại không thể phát
hành bản chính nguyên bản không sai lạc.
Tôi vẫn c̣n không thể quan niệm về một thực thể linh thiêng
có một bản thể vật chất nghĩa là tôi tiếp tục chối bỏ quan
niệm Chúa Giêsu vừa là Chúa vừa là người. Xung đột phát sinh
trong tâm tưởng tôi trong suốt thời gian tôi dạy hùng biện
tại Roma.
T́nh cờ tôi nghe có một chỗ làm rất tốt ở Milan, và tôi biết
tôi rất thích công việc đó. Dĩ nhiên thị trưởng thành phố
Roma được xin chỉ định một giáo sư tu từ cho thành phố Milan
với công quĩ. Một vài người bạn trong phái Manichee có thần
thế đă xin cho tôi và trả tiền lộ phí cho tôi đi Milan.
Công việc đ̣i hỏi tôi phải làm việc gần gũi với vị giám mục
Milan là Ambrose, tôi nghe nói rất nhiều về ngài và ngài
được kính trọng v́ có tài hùng biện có một không hai. Ngài
tử tế và thân t́nh với tôi, như một người cha, và tôi mau
chóng thành thân thiết với ngài, cũng đáng buồn là lúc đó
chưa chấp nhận giáo thuyết của ngài, mà tôi không biết là
giáo thuyết chân thật của thánh kinh, nhưng chỉ thân với
ngài như một người và một học giả.
Tôi rất thích nghe ngài giảng dù trong ḷng tôi bác bỏ sứ
điệp cứu độ của ngài. “Sự cứu độ xa cách người có tội” dĩ
nhiên, nhưng dần dần tôi thấy gần gũi hơn mỗi ngày với sự
cứu độ mà ngài rao giảng. Điều tôi học được nơi Ambrose là
đức tin công giáo có thể binh vực bằng lư trí. Nó không như
trước đây tôi nghĩ, là vô lư từ nội tại. Tôi đặc biệt đánh
giá cách thế kỳ diệu ngài dùng để giải thích cựu ước. Tôi
rất có ấn tượng v́ tôi thuộc những đoạn đó. Nhưng v́ tôi
hoàn toàn chết về tinh thần nên tôi không hiểu được. Đây là
một cái tát cho niềm kiêu hănh của tôi, tôi giả thiết thế,
nhưng cũng là điều tôi phải học.
Và thế là tôi bị xâu xé giữa một mớ lư thuyết Manichee mà
tôi hoài nghi và lư thuyết Kitô giáo tôi bắt đầu thán phục
nhưng không thể tin theo. Nếu tôi quan niệm được một bản thể
thần linh th́ những pháo đài Manichee trong tâm trí tôi mới
tan vỡ được.
Tôi có quyết định quan trọng. Tôi bỏ phái Manichee v́ tôi
không c̣n chia xẻ niềm tin với họ. Tôi muốn thành dự ṭng đi
học giáo lư cho đến khi tôi thấy được chân lư chắc chắn.
Khỏi cần phải nói, mẹ tôi sung sướng lắm.
Chương 3.
Thời gian quyết
định ở Milan
Lúc đó mẹ
Augustin theo ngài đến Milan. Không thể phóng đại ảnh hưởng
của người phụ nữ kỳ diệu này trên đứa con xuất sắc. Cũng rất
quan trọng là ảnh hưởng của Ambrose, mà những bài giảng kinh
thánh tiếp tục gây ấn tượng nơi Augustin nhất là cho ngài sự
kính trọng đối với cựu ước.
Tuy nhiên
trong ḷng ngài là cả một trận chiến tâm trí và luân lư.
Những người trí thức ở Roma đă tiêm cho ngài cái ư nghĩ bi
quan không thể minh chứng một sự ǵ và tin vào điều ǵ. Bác
bỏ những tín điều Manichee ngài lại do dự khi phải chấp nhận
những tín điều công giáo. Và thế là ngài do dự giữa thuyết
bi quan và niềm tin, tuy vẫn là người luôn t́m kiếm.
Tuy nhiên có
thể là vấn đề luân lư quan trọng hơn vấn đề trí thức trong
lương tâm ngài. Ngài biết cuộc sống của ngài không giống như
cuộc sống của người t́m kiếm chân lư tinh thần. Đàng khác sự
khoái lạc buông thả dần dần biến đi. Ngài thấy ḿnh không
phải là một thánh nhân tin tưởng cũng chẳng là tội nhân thoả
măn. Cần phải thay đổi một cái ǵ.
13. Nhận sửa
chữa
Mẹ tôi theo
tôi đến Milan nên tôi có thể cho bà hay tôi đă bỏ tà thuyết
(điều này mẹ đă khuyên nhủ tôi từ lâu) nhưng chưa quay về
với niềm tin mẹ hằng cung kính theo đuổi. Tôi biết bà hài
ḷng nhưng bà khôn ngoan không cho đó là một chuyện lớn lao.
Chỉ v́ bà có niềm tin rằng Chúa, lạy Chúa, đă hứa sẽ xảy ra
như thế, không phải tôi chỉ từ bỏ lầm lạc mà c̣n chấp nhận
chân lư. Điều bà nói với tôi là “mẹ chỉ hi vọng trong Chúa
Kitô là mẹ sẽ thấy con là một người công giáo chân thành
trước khi mẹ nhắm mắt”.
Dĩ nhiên mẹ
c̣n thưa chuyện nhiều với Chúa. Tôi biết bà c̣n cầu cho tôi
trở lại một cách sốt sắng hơn cũng như mau mắn đến nhà thờ
nghe giám mục Ambrose giảng. Bà cũng cảm phục thánh nhân như
thiên sứ Chúa dùng để mang tôi đến t́nh trạng cởi mở tinh
thần như một người tân ṭng.
Trong những
ngày ở Milan mẹ tôi đă có một kinh nghiệm cho hay bà là
người phụ nữ kỳ diệu.
Tại Bắc phi
nhiều người có đạo có thói quen mang bánh ngọt bánh ḿ và
rượu tới những mồ của các vị thánh đă qua đời và mẹ tôi
thích phong tục đó lắm, và ăn uống với những người đến đó
viếng mộ. Đây là dấu hiệu kính trọng thân hữu với những
người đă chết trong Chúa Kitô.
Khi đến Milan
bà cũng muốn tôn kính các thánh theo phong tục đó và mang
giỏ nhỏ đựng bánh và rượu. Khi vào nghĩa trang bà được ông
từ cho hay giám mục Ambrose cấm chỉ phong tục đó. Dĩ nhiên
mẹ tôi bất ngờ nhưng khi nghe những lư lẽ của vị giám mục bà
chấp nhận ngay. Ngài cảm thấy phong tục đó sẽ trở thành
những biến cố xă hội mất trật tự dễ làm cho người ta say
sưa. Hơn nữa phong tục có nhiều yếu tố ngoại đạo.
Tôi rất xúc
động khi thấy cách thế mẹ tôi sẵn sàng từ bỏ một phong tục
mẹ rất tha thiết và vui vẻ chứ không buồn bực từ bỏ một khi
đă nghe được những chứng cứ được giải thích cho bà. Thế là
thay v́ mang bánh rượu vào bà đă mang cả tâm hồn và lời cầu
nguyện vào và đă phân phát rượu bánh cho người nghèo.
Đây là bài học
cụ thể cho tôi về đức khiêm nhường thực sự: sẵn sàng của
người trưởng thành chấp nhận sửa chữa và không những thay
đổi ư kiến mà cả cách hành động. Thái độ của bà làm cho
thánh Ambrose cảm động. Khi gặp ngài, ngài đă khen mẹ tôi và
chúc tụng tôi đă có một bà mẹ như thế. Đáng thương cho bà
lúc đó lại có một đứa con không thể t́m ra kiểu sống đó và
niềm tin rất có ư nghĩa đối với bà.
14. Những vấn
đề của tôi với chứng cớ
Tôi thích
tranh luận những vấn đề trí thức và linh thiêng với giám mục
Ambrose: ngài là hạng người mà ai cũng sung sướng khi nói
chuyện với. Nhưng đáng tiếc ngài ít có giờ rảnh. Đám đông
luôn đến bên ngài và khi ở một ḿnh th́ ngài lại học hỏi.
Ngài không bao giờ để cho ḿnh bị cô đơn, cửa ngài vẫn mở và
cũng không có thư kư để ngăn người ta đến gặp. Nhưng tôi
thấy ngài bận việc mục vụ và với nhiều người tùy thuộc vào
ngài. Tôi muốn hỏi người tại sao người b́nh thản, ngài sống
độc thân ra sao (một điều tôi không thể quan niệm được) ngài
hi vọng ǵ và bị cám dỗ ra sao, ngài thấy niềm vui nào khi
chịu bí tích, và ngài có được sức mạnh ở đâu với những vấn
đề, những chống đối và thất vọng. Nhưng tôi không thể làm
điều ấy dù tôi sống với ngài trong thời gian dài. Thực ra
những sóng gió trong ḷng tôi đ̣i hỏi nhiều nhờ nhiều khi
nhiều ngày của ngài nhưng điều đó không thể nào có được.
Tôi chỉ c̣n
nghe ngài giảng mỗi chủ nhật và tôi theo lời ngài, ít ra
ngài thuyết phục tôi về điều này là những ai cười nhạo thánh
kinh là hoàn toàn sai lầm.
Ngài cũng giúp
tôi khi chứng minh là nhiều thứ tin tưởng của người công
giáo mà tôi thấy không thể tin được hay vô lư thực ra chỉ là
những sai lạc từ những giáo thuyết Kitô giáo. Một trong
những tin tưởng đó là nhiều người công giáo chủ trương là v́
“Chúa dựng nên con người giống h́nh ảnh Chúa” nên Chúa cũng
có xác như người ta. Thực là nhẹ ḿnh khi tôi thấy ḿnh thay
v́ chống đối chân lư thật thực ra chỉ là chống đối những
chân lư sai lạc.
Vấn đề vẫn
chưa giải quyết. Nếu như Ambrose nói và kinh thánh dậy Chúa
là Thần Linh, và không thể tưởng tượng ngài có mang cơ thể
con người, th́ làm sao con người từ đầu đến chân mang một cơ
thể lại có thể giống h́nh ảnh ngài được. Lúc đó tôi không
thấy có giải đáp. Nhưng ít ra tôi có quan niệm về Thiên Chúa
Đấng Sáng tạo mọi loài, làm đầy vạn vật, không bị không gian
và thời gian hạn chế, hay bị hạn chế trong vật chất. Chỉ
quan niệm ấy làm cho tôi bắt đầu tin rằng (chỉ có tôi t́m
ra) giáo thuyết ấy của giáo hội.
Tôi lo âu v́
tôi không thể chấp nhận điều ǵ tôi không thể chứng minh
được. Tôi muốn chắc chắn cả về những chuyện vô h́nh và xác
tín về những điều phải tin như bảy với ba thành 10.
Tôi nghĩ đă
t́m ra những tin tưởng trong phái Manichee mà tôi đă theo từ
lâu là sai lạc nhưng tôi lại như xiêu ḷng muốn quay trở
lại. Tôi như người mới được một bác sĩ dốt chữa bịnh lại
muốn như tin vào ông ta dù cho có bác sĩ khác giỏi hơn. Tôi
chỉ được chữa khỏi do niềm tin. Nhưng tin lại là chuyện tôi
không thể làm được.
15. Không
khoái lạc trong tội lỗi
Nghề nghiệp
th́ thăng tiến nhưng h́nh như sự thế lại áp lực tôi. Tôi
muốn danh dự giàu có và t́nh dục nhưng Chúa h́nh như chê bai
những tham vọng đó của tôi. Ngài làm cho tôi không thích thú
ǵ những chuyện đó. Nếu ngài không ngăn được tôi phạm tội mà
không vi phạm tự do của tôi, th́ ngài có thể ngăn ngừa việc
tôi thích phạm tội.
Tôi rất thích
khi được đọc diễn văn ca ngợi hoàng đế. Trong ngày phải đọc
diễn văn tôi bị bối rối trong ḷng khi biết ḿnh sẽ nói
nhiều chuyện giả dối nịnh bợ, lại được người ta hoan nghênh
và họ là những người biết rằng ḿnh giả dối.
Khi tôi đi đến
chỗ tụ họp trên đường phố Milan tôi thấy có một ông hành
khất. Ông h́nh như hơi say nhưng chắc chắn là ông rất vui.
Nhưng điều đó làm cho tôi xúc động. Trên đường đi đến nơi
hội họp tôi là người lo âu và khốn khổ. C̣n ông ta không có
ǵ để làm và không có ai để gây ảnh hưởng th́ lại hạnh phúc
trong sáng.
Tôi nhận xét
như thế với bạn tôi và cho hay những tham vọng và ao ước
phức tạp của chúng ta rút cục chỉ thêm gánh nặng cho ta. Ta
cố gắng để được hạnh phúc, thoả măn, và thành công nhưng rút
cục ta chỉ thấy nặng nề và bất hạnh. Người ăn mày thực sự
không t́m kiếm ǵ chỉ một vài xu mua rượu ông cũng thoả măn
rồi.
Họ cũng cho
hay niềm vui của họ chỉ là giả dối. Tôi trả lời niềm vui của
tôi cũng thế, c̣n chán chường hơn thế nữa. Dĩ nhiên tôi có
mang giày hơn ông ta nhưng h́nh như đây chỉ là sự lựa chọn
vô lư. Tôi giỏi hơn ông nhưng không hạnh phúc hơn ông.
Bạn bè tôi lại
bảo điều quan trọng không phải là niềm vui mà căn bản của
niềm vui. Người ăn mày vui v́ rượu, c̣n tôi vui v́ muốn được
vinh quang. Nhưng vinh quang nào? Nội tâm tôi phản đối. Chắc
chắn không phải vinh quang cao quí và chân thật cũng chẳng
phải vinh quang cho Chúa. Nếu niềm vui của ông hành khất
không là niềm vui thực th́ vinh quang của tôi cũng không là
vinh quang đích thực. Ông có rượu khi chúc tụng mọi người
qua lại được may mắn c̣n vinh quang của tôi dựa trên nịnh bợ
những điều giả trá. Ông ta có thể ngủ mà không say nữa nhưng
tôi vẫn mang tội lỗi lên giường với tôi và cũng tỉnh giấc
với tội lỗi nữa.
Tôi tiếp tục
tranh luận với bạn bè như thế. Dĩ nhiên họ không đồng ư
nhưng lúc đó họ cố phỉnh tôi lại càng chứng minh là tôi nói
đúng. Nhưng tôi vẫn không hết lo âu. Kinh nghiệm của tôi lúc
đó khi tôi chống lại lời mời gọi của Chúa, là thấy rơ tôi
đang trên con đường tự hủy. Công nhận điều ấy làm cho tôi
khốn khổ. C̣n tệ hơn khi trong chốc lát tôi thấy có ǵ vui
và thoả măn, tôi lại không được hưởng thụ. Mỗi lần tôi giơ
tay đón lấy niềm vui th́ niềm vui xa chạy cao bay.
Chương 4. Làm
bạn với Alipius
Người bạn thân
trong tuổi 20 của Augustin là Alipius một thanh niên trước
là môn sinh ở Tagaste và Carthage sau đó lại đến Roma và
Milan với ngài. Anh trẻ hơn Augustin rất nhiều nhưng ông bạn
già lại kính phục sự thành thực, trí phán đoán và ngay thẳng
của anh. Họ cùng tranh luận phải trái về những vấn đề nhân
sinh. Và cùng với một nhóm mười người bạn họ cùng nhau t́m
ra chân lư. Nhưng chính Alipius đă chia xẻ những kinh nghiệm
quan trọng nhất của Augustin, gồm cả việc người trở lại.
Augustin
thường nói về Alipius với lời ca tụng, đề cập đến bao nhiêu
tài năng dấu ẩn hay xuất hiện nơi anh ta khi chàng trai này
càng trở nên quan trọng vào cuối đời của ngài. Nghề của
Alipius gần gũi với Augustin. Anh cũng được phong chức linh
mục và được làm giám mục thành Tagaste.
16. Thích thể
thao
Trong số những
bạn sống với tôi người tôi thích nhất là chàng Alipius trẻ
tuổi. Anh cùng quê với tôi và cha mẹ là bậc thế gia vọng
tộc. V́ anh trẻ hơn tôi nên nhiều khi tôi là giáo sư của
anh, trước ở quê sau lên Carthage. Anh tỏ ra thán phục điều
anh thấy nơi tôi là sự học vấn và dễ thông cảm; và tôi cũng
thán phục triển vọng của anh, tŕnh độ luân lư cao và trí
thức trổi vượt.
Khi anh đến
Carthage nơi tôi dậy tu từ lúc đầu anh không học tôi v́ sự
bất đồng của cha anh và tôi. Đáng buồn là anh thích thể
thao.
Thể thao là hí
trường, đua xe ngựa, đấu vật thu hút nhiều người. Điều này
có vẻ hạ cấp và tàn ác nhưng tôi không tiện can thiệp khi
Alipius đang thích. Tôi không là thầy dậy anh và không coi
ḿnh là bạn của anh và coi như anh cũng nghĩ về tôi như cha
anh. Thực sự anh không như thế nhưng lúc đó tôi không để ư
điều đó. Tuy nhiên có lần anh đến lớp tôi và vẫy tay chào
tôi. Về phần tôi th́ tôi không chịu nói về chuyện mê chơi
của anh tuy nhiên trong cách thế lạ lùng tôi dùng (Sau này
tôi tin là do Chúa) tôi xin anh xét lại việc mê chơi của
anh.
Tôi đang nói
về một bản văn và dùng vận động trường như thí dụ giải thích
vài điểm. Không có ư nói tới Alipius, tôi lưu ư về những
người mê thể thao. Thật lạ lùng anh cho là tôi nói về anh và
anh nhớ măi. Thay v́ giận dữ, như người ta thường làm, anh
coi điều tôi nói như là cảnh cáo thân t́nh và giúp cho anh.
Kết quả anh không đến hí trường nữa và không nghĩ ǵ đến
những chuyện liên quan đến hí trường.
Hơn nữa anh
lại được phép cha anh đến học với tôi và bắt đầu chia xẻ sự
sùng tín của tôi về những thuyết lư của phe Manichee. Chuyện
này tiếp tục khi anh đi Roma để học luật trước khi tôi đến
đó. Tại Roma đáng tiếc là anh lại gặp dịp thể thao. Những hí
trường lớn như Coliseum thu hút đám đông quần chúng và người
ta đến đó để cho phép ḿnh say máu khi các tay giác đấu đánh
nhau chí tử. Alipius vẫn giữ quyết định ở Carthage là không
đến hí trường. Nhưng một buổi chiều sau khi ăn cơm bạn bè
đến rủ anh và định dùng vơ lực mang anh đến hí trường.
Thái độ anh
dứt khoát: anh đă định không đi và anh đă nhất quyết như
thế. Tuy thế họ thuyết phục và đùa cợt, muốn lôi anh ra khỏi
nhà, nên cuối cùng anh quyết định ra đi nhưng anh bảo họ là
anh vào hí trường nhưng nhắm mắt và tâm trí không nghĩ đến
cảnh tàn bạo đang diễn ra nơi đó.
Anh nói: “Tụi
bay có thể nghĩ rằng tao có mặt ở đó với tụi bay nhưng thực
sự tao sẽ vắng mặt và điều này sẽ làm cho tụi bay thất bại
trong việc muốn tao làm điều xấu xa”. Đây là những lời can
đảm nhưng cũng là những lời tâm t́nh.
Alipius và lũ
bạn đến nơi trong lúc quần chúng đang say sưa và không t́m
ra được chỗ ngồi. Như đă nói anh ta nhắm mắt lại và cũng cố
gắng dẹp trí tưởng tượng do những tiếng động và kích thích
chung quanh.
Mọi truyện êm
xuôi được một lúc. Rồi khi một trận đấu kết thúc khi quần
chúng đứng lên cổ vơ đấu thủ giết chết người cùng tranh đấu,
Alipius không thể không mở mắt để xem chuyện ǵ xảy ra “tuy
đă quyết chống lại và khinh bỉ chuyện đó” như sau này anh kể
lại. Nhưng điều anh trông thấy đă ảnh hưởng đến anh trong
ḷng như anh đang giết người vơ sĩ giác đấu.
Lỗi lầm của
anh như anh thổ lộ sau này là tin vào sức mạnh của ḿnh để
chiến thắng cám dỗ. Lúc này anh không thể chống lại khung
cảnh đó. Anh cũng nhẩy cẫng lên như người khác, đ̣i đổ máu.
Anh không c̣n là chàng trai xứng đáng có niềm tin luân lư
cao thượng và khinh bỉ sự tồi bại cũng như sự tàn ác nơi hí
trường. Đúng hơn anh là con người hung dữ như mọi người khác
nh́n, la hét và sung sướng v́ cảnh tượng xấu xa. Điều tệ hại
là anh đi đến nhiều lần lại c̣n rủ nhiều người khác cùng đi.
Lúc đó anh
không biết có ngày Chúa sẽ gọi anh làm linh mục, để chủ tọa
các phép bí tích và coi sóc đàn chiên Chúa. Anh cũng không
biết được nhiều năm sau Chúa sẽ dùng tay nhân từ và mạnh mẽ
kéo anh ra khỏi cảnh dại dột hiện tại và dạy anh đừng nên
tin tưởng vào ḿnh nhưng hăy dựa cậy vào Chúa.
17. Kinh
nghiệm đau khổ khác
Kinh nghiệm
của Alipius nơi hí trường cũng giống như chuyện xảy ra ở
Carthage trong lúc tôi dậy học cho anh. Cả hai biến cố anh
đều ghi nhớ và sau này sẽ có giá trị cho cuộc đời anh nhưng
ngay lúc đó thật là những kinh nghiệm đau đớn.
Một hôm ở
Carthage anh đi dạo phố vào lúc trưa đọc bài to tiếng và
mang bút và bản viết. Một học sinh khác cũng ra chợ, anh
không biết cậu này, nhưng lư do của cậu ta không nghiêm
chỉnh như thế. Anh ta mang theo ŕu và treo lên mái nhà một
ông thợ bạc với ư định đánh cắp mấy món đồ treo trong nhà.
Không ngờ
tiếng va chạm làm cho ông thợ dưới nhà nghe thấy nên chạy ra
ngoài xem truyện ǵ xảy ra. Tên trộm thấy nguy hiểm nên lủi
đi và để cái ŕu trên mặt đất gần cửa tiệm.
Alipius nghe
thấy xôn xao nên chạy đến coi. Anh thấy tên trộm đang lủi đi
(dù không biết anh ta đă làm ǵ, và rồi anh thấy cái ŕu th́
cầm lên. Lúc đó ông thợ bạc xuất hiện thấy Alipius đứng đó
có tang vật trong tay. Dù anh phản đối ông vẫn dẫn anh đến
quan ṭa v́ thấy rơ ràng hai với hai, mang theo chiếc ŕu
làm tang vật.
Số phận của
anh chắc chắn sẽ vô tù hay ít là bị đánh đ̣n ngoài chợ nếu
không có một ông kiến trúc sư đi qua. Ông thợ bạc rất thích
gặp ông ta kể cho ông nghe chuyện đă xảy ra và Alipius cũng
kể, v́ anh đă gặp ông nhiều lần tại nhà của một nghị sĩ bạn
của cả hai người. Ông kiến trúc sư tách riêng Alipius ra và
hỏi anh. Không giống mọi người ông biết chuyện ǵ đă xảy ra
và ông dẫn họ cùng với Alipius đến nhà tên bị t́nh nghi. Tại
cửa có một anh nô lệ c̣n rất trẻ nên ông kiến trúc gia nghĩ
nó chưa có thể bịa chuyện. Ông hỏi: “Chiếc ŕu này của ai ?”
Đứa nhỏ nói
ngay: “Của nhà tôi mà”, và ông dẫn họ đến với người chủ t́nh
tờ cũng thú nhận làm cho Alipius thấy nhẹ cả ḿnh. Anh về
nhà trở thành người khôn ngoan hơn. Anh cũng học được một
điều làm cho anh luôn ngay thẳng trong bao nhiêu năm cho đến
khi Chúa gọi anh làm thẩm phán và làm người xét đoán nhiều
vụ trong giáo hội. Sự việc nhiều khi không như ḿnh tưởng.
18. Cuộc t́m
kiếm của trí thức
Alipius là một
người trong nhóm bạn khoảng 10 người, cùng đến Milan học
luật. Tôi gặp anh tại Roma và anh theo tôi lên Milan. Tôi
kính phục nhiều đức tính của anh nhưng nhất là tôi cảm phục
sự lương thiện ngay thẳng. Lúc đó trong triều đ́nh hay có
chuyện hối lộ khi anh làm lục sự cho một thẩm phán và áp lực
thật mănh liệt. Tuy nhiên anh luôn không nhận hối lộ. Và
ngay tại Roma anh c̣n làm cho một ông nghị tức giận điên
người muốn cho anh tiền trong một vụ rắc rối pháp luật. Khi
Alipius từ chối, ông muốn điên lên. Ông đe dọa nhưng anh vẫn
chống đối. Rồi ông t́m cách cho ông chánh án trong phiên ṭa
anh là luật sư. Nhưng Alipius đe dọa sẽ bỏ phiên ṭa và nói
lư do tại sao, nếu ông chánh án xử cho ông nghị được kiện.
Ông chánh án phải xử cho ông ta thua theo như luật pháp đ̣i
hỏi nhưng ông đổ tội cho Alipius, nhưng anh vẫn hề bối rối
dù bị tai hại cho nghề nghiệp.
Tuy nhiên để
cho có uy tín anh phải theo cám dỗ không lương thiện trong
một vụ án lớn hơn. Anh thích sách vở và sự học hỏi và khi
anh có dịp mua những bản văn ăn cắp với giá rẻ, lúc đầu anh
muốn chấp nhận. Lúc đó ai cũng thế.
Nhưng khi nghĩ
lại, như thói quen, anh quyết định không nhượng bộ những
nguyên tắc đă đặt ra về vấn đề như thế. Đây chỉ là gương mẫu
theo lời nói của Chúa Giêsu “ai trung thành trong việc nhỏ
th́ cũng trung thành trong việc lớn lao” Thực ra không có sự
vô lương nào lớn cả và Alipius biế điều ấy hơn bất cứ người
nào trong chúng ta. Tuy thế anh thẳng thắn trong những vấn
đề luân lư th́ lại do dự trong vấn đề quan trọng nhất. Đâu
là nguyên lư hướng dẫn cuộc đời anh? Về vấn đề này anh cũng
ở trong t́nh trạng như tôi và cả nhóm bạn nhỏ bé đó. Chúng
tôi nói ḿnh luôn t́m kiếm không mệt mỏi chân lư và sự khôn
ngoan nhưng h́nh như không bao giờ chúng tôi t́m thấy.
Ba chúng tôi,
nhân vật thứ ba là Nebridius, tôi phải nói là làm ra vẻ t́m
kiếm. Chúng tôi thở dài, hỏi ḷng ḿnh, luôn hỏi nhau, tranh
luận cho đến khuya, luôn chờ đợi lúc nào đó có tia sáng nào
làm cho mọi chuyện được sáng suốt.
Cuộc sống xă
hội và thế tục của chúng tôi vẫn tiếp tục. Dù sao chúng tôi
là người thế tục. Tôi có người yêu và họ cũng có những khoái
lạc. Tuy nhiên những điều đó không làm cho chúng tôi thích
thú ǵ. Chúng tôi chỉ được những chua cay và những ǵ chúng
tôi thấy chỉ là bóng tối dầy đặc.
Chúng tôi thất
vọng hỏi nhau: “Cuộc sống cứ như thế này măi sao?” Không bao
giờ chúng tôi thôi làm những chuyện mâu thuẫn với việc t́m
kiếm chân lư hay có liên hệ giữa nếp sống hiện tại và sự
kiện là cuộc sống đích thực mà chúng tôi nói ḿnh ao ước
không bao giờ thực sự xảy ra.
Về phần tôi,
tôi bắt đầu thất vọng v́ không bao giờ t́m ra câu giải đáp.
Tôi t́m kiếm từ năm 19 tuổi và bây giờ gần 30 vẫn chưa tới
gần chân lư. Tôi lại c̣n lư luận về t́nh trạng đó với ḿnh.
Tôi muốn nói: “Ngày mai chân lư sẽ tỏ hiện và tôi sẽ chấp
nhận”. Hay “Faustus lănh tụ phái Manichee sẽ đến Milan và
ông sẽ giải đáp thắc mắc cho tôi”. Hay theo kiểu thất vọng
hơn, “Có phải không có ǵ chắc chắn như nhiều nhà trí thức
lư luận trong vấn đề này và việc t́m kiếm là vô ích chăng?”
Hay có vẻ hi vọng hơn tôi lư luận: “Tôi biết tôi sẽ làm ǵ.
Tôi đă thấy kinh thánh dạy là không vô lư. Tôi đă dấn thân
học đạo. Chắc chắn tôi sẽ đi trên con đường cha mẹ tôi đi
khi nào chân lư sáng tỏ cho tôi”.
Nhưng tôi hành
động trái ngược lại cả những thiện ư đó. Như nhiều người tôi
thích hỏi, và đặt ḿnh vào tư thế của người t́m kiếm, nhưng
tôi lại không dành cho công việc đó thời gian và sự cố gắng
cần thiết. Chẳng hạn tôi định dành ban sáng cho việc dậy học
và ban chiều dành cho việc t́m hiểu chân lư siêu nhiên. Tốt
lắm. Nhưng tôi lại bắt đầu hỏi ḿnh “khi nào tôi có giờ cho
bạn tôi” hay “khi nào tôi soạn bài?” hay “khi nào tôi giải
trí?”
Trong những
lúc thức tỉnh tôi biết những chuyện ấy đưa tôi đến đâu nhưng
tôi bất lực không thể thay đổi. Tôi biết giờ chết không biết
đến lúc nào đối với tôi cũng như cho mọi người và biết trễ
nải hay tŕ hoăn việc t́m kiếm chân lư bằng những lư do vô
lư như hội họp, giải trí hay cả việc dọn bài học cũng là ngu
dại. Khoa luận lư thôi cũng nói cho tôi hay rằng ưu tiên số
một phải dành cho việc t́m Chúa và cuộc sống vĩnh cửu trước
khi làm những công việc phụ thuộc khác.
Nhưng khoa
luận lại không làm như thế. Nó cho tôi hay là tham vọng là
đáng tôn trọng. Chẳng hạn làm tổng đốc sẽ mang lại khoái lạc
và thoả măn. Lấy vợ giàu sẽ giải quyết hai vấn đề trong cuộc
đời là khoái lạc và tiền bạc. Tôi nghĩ tôi chỉ ao ước thế
thôi. Khi đạt tới rồi tôi sẽ t́m kiếm sự thực.
Trong lúc tôi
lư luận này nọ với chính ḿnh và bạn bè, thời gian lặng lẽ
trôi qua. Bây giờ tôi có thể thấy rằng dù tôi rất muốn hạnh
phúc và đầy đủ, tôi sợ đi kiếm cuộc sống hạnh phúc trong một
nơi có thể t́m thấy và tận đáy ḷng tôi tôi cũng biết. Như
thế tôi trốn tránh sự thực dù cho tôi cho rằng đang t́m nó.
Tôi chỉ không thấy rằng vấn đề trí thức chỉ là vấn đề luân
lư trá h́nh.
19. Khi thân
xác làm chủ tinh thần: theo đuổi hôn nhân
Chính Alipius
chống đối việc tôi lấy vợ nhất. Tôi đă sống với một người
phụ nữ trong nhiều năm và cảm thấy thà bỏ sự vô luân bước
vào hơn nhân để có thể giữ tư thế người t́m kiếm chân lư,
không phải với cô ta, như Chúa biết, nhưng với một cô nào có
địa vị hơn. Anh lư luận rằng anh cũng thử t́nh dục trong quá
khứ và không thấy hạnh phúc ǵ, và trong bất cứ trường hợp
nào th́ người vợ cũng ngăn cản ta t́m chân lư. Anh đă sống
cuộc sống rất trong sạch.
Tuy nhiên tôi
căi lại anh và cho rằng nhiều người khôn ngoan nhất cũng đă
lập gia đ́nh. H́nh như điều ấy không ngăn cản họ t́m chân lư
cũng không cách ly họ xa Chúa. Không những thế mà vấn đề
khoái lạc t́nh dục không thể chỉ kinh nghiệm cách hời hợt
trong những liên hệ mau qua hời hợt như anh đă có, nhưng sẽ
có giá trị khi là liên hệ lâu bền như tôi đă có và c̣n hơn
nữa nếu có t́nh trạng hôn nhân (như tôi định có). Trước
những lư luận đó ngay cả Alipius cũng gần xiêu ḷng.
Thế là việc
t́m vợ cho tôi bắt đầu và mẹ tôi hoàn toàn giúp đỡ khuyến
khích. Bà lo lôi kếo tôi ra khỏi cuộc sống tội lỗi mà bà cho
là tôi đang có, và bà cũng hi vọng khi tôi lấy vợ tôi sẽ
lănh bí tích rửa tội.
Nhưng có một
điều kỳ lạ trong thái độ của mẹ tôi về vấn đề này. Bà thường
cầu xin Chúa soi sáng cho bà theo ư Chúa trong những thị
kiến phải làm điều này hay điều kia (và bà thường được như ư
cách này hay cách khác) Nhưng trong cuộc hôn nhân của tôi dù
cho bà cầu nguyện cho việc ấy ngày cũng như đêm, Chúa không
soi sáng ǵ cho bà cả. Bà cũng có đôi chút tưởng tượng về cô
vợ tương lai của tôi nhưng trống rỗng và phỉnh gạt ḿnh,
nhưng bà biết đó không phải là thị kiến Chúa ban.
Công việc tiến
triển. Hỏi một cô và cô ta chịu. Cô ta rất thích hợp trong
mọi sự và tôi cũng thích cô ta lắm nhưng c̣n hai năm nữa cô
mới đến tuổi cập kê. Tôi không c̣n cách nào khác đành chờ
đợi thôi. Nhưng tôi đă không làm ǵ, Nhóm bạn của tôi đă
hoạch định chương tŕnh sống chung như một cộng đồng, để có
thể t́m chân lư. Nhưng vấn đề vợ con, nhiều người đă có vợ,
và tôi dĩ nhiên sắp cưới vợ, đă làm sứt mẻ t́nh huynh đệ và
chương tŕnh đổ vỡ.
khi chuyện đó
xảy ra th́ tôi trải qua một kinh nghiệm đau đớn. Nếu tôi lấy
vợ danh giá th́ tôi phải bỏ người t́nh. Khi giải thích điều
đó cho nàng th́ nàng rất khó chịu. Nàng không thể tin rằng
tôi nhẫn tâm để nàng ra đi. Nàng cản thấy tôi đă xử tệ với
nàng (như tôi đă làm) và thề sẽ không bao giờ biết đến đàn
ông nữa Nàng trở về Phi châu để lại thằng con nhỏ tuổi ở lại
với tôi ở Milan.
Tôi cũng cảm
thấy bị thương tổn sâu xa nhưng phản ứng của tôi hoàn toàn
trái ngược. Thấy c̣n những hai năm nữa mới lấy vợ và không
thể tưởng tượng có thể giữ ḿnh trong hai năm đó nên tôi
kiếm cô bồ khác. Đây là một kinh nghiệm đớn đau như những cố
gắng khác trong thời gian đó, đi t́m khoái lạc xa cách Thiên
Chúa. Nỗi đau xa cách người t́nh cũ mà tôi c̣n yêu càng ngày
càng mănh liệt chứ không yếu đi. Đây là nỗi đau đớn tái tê
chó má làm cho hỏng mất mọi mưu toan muốn thay thế nàng bằng
những liên hệ khác.
20. Vấn đề sự
dữ
Cũng vào thời
gian này tôi trải qua một thời kỳ tăm tối khi tôi t́m hiểu
vấn đề nguồn gốc sự dữ.Tôi không hiểu rằng ch́a khóa của tất
cả những vấn đề ấy là sự tự do của ư chí con người. Tôi biết
và luôn tin là Thiên Chúa không bị thay đổi hay hư nát và
Thiên Chúa không thể và không tạo nên bất cứ cái ǵ xấu xa.
Như thế tôi
không biết nguồn gốc sự dữ như thế nào. Nếu quỉ tạo nên th́
ai ngoài Chúa tạo nên ma quỉ? Và nếu chính tôi do Chúa tạo
nên (chính là sự Thiện) tại sao tôi lại hay muốn làm điều
ác? Ai đă mang yếu tố xấu đó vào đời tôi? Chắc chắn không
phải là Chúa. Và trong mọi trường hợp tai sao Chúa không thể
với quyền phép vô cùng, biến đổi hay chuyển mọi sự dữ thành
sự lành? Tại sao có sự dữ trong thế giới của Chúa và nghịch
lại ư Chúa?
Những vấn đề
như thế xáo trộn đầu óc tôi. Tôi thiếu chất keo sống là Chúa
tạo nên chúng ta hoàn hảo, nhưng cho ta tự do ư chí; và ta
đă đem những nguyên lư xấu vào cuộc sống của ta khi sử dụng
tự do đó. Dù tôi không thấy vấn đề trọn vẹn tôi càng xác tín
về hai điều: thứ nhất phái Manichee sai, thứ hai là khi tôi
t́m ra vấn đề th́ vấn đề nằm trong Kinh Thánh và phần nào
đặt trung tâm nơi Chúa Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa và
Chúa chúng ta.
Trên căn bản
đó, thật rơ ràng đối với tôi là mọi sự Chúa dựng lên đều
tốt, ngay cả những sự hư nát, như bản tính con người. V́ nếu
lúc đầu nó không tốt th́ nó đă không bị hư nát: không thể
làm hư hỏng cái ǵ đă xấu. Như thế tôi thấy có sự phân biệt.
Nếu vật thụ tạo là sự thiện tối cao như Thiên Chúa, th́ sẽ
không hư hỏng như Ngài. Đàng khác nếu chúng không tốt tí
nào, th́ sẽ không có ǵ trong chúng bị hư hỏng. Như thế
chúng cũng không hư hỏng. Nhưng con người lại ở trong hai
trường hợp: chúng ta hư hỏng cách ghê gớm. Như thế bây giờ
tôi thấy như một lư chứng mạnh mẽ là từ đầu nhân chi sơ tính
bổn thiện như Kinh Thánh dậy. Chúng ta không phải là sự
thiện tối cao: chính là Thiên Chúa. Nhưng chúng ta cũng
không hoàn toàn xấu: như thế chúng ta có thể bị hư hỏng.
Nhưng chúng ta ở giữa trong cái bế tắc luân lư, nhưng không
thể cứu ḿnh được. Chúng ta là những con người luân lư, được
dựng lên tốt lành theo h́nh ảnh Chúa; nhưng chúng ta có thể
bị hư hỏng, khi ta lạm dụng hồng ân tự do lựa chọn và như
thế chúng ta bị hư hỏng không thể tránh được.
Dần dà và ngày
qua ngày, tôi ư thức bản tính của tôi v́ bây giờ Chúa giúp
tôi thấy. Ngài bắt đầu chiếu ánh sáng chân lư ngài trong
cuộc sống của tôi, một ánh sáng khác hẳn ánh sáng tôi biết
được trên thế gian. Ánh sáng không quá cao hơn sự hiểu biết
trí thức hay tâm linh của tôi.
Ánh sáng trên
tôi v́ dựng nên tôi, và tôi ở dưới v́ tôi được tạo nên do
ánh sáng đó. Ai biết chân lư sẽ biết ánh sáng đó; và ai biết
ánh sáng đó sẽ hiểu được ư nghĩa của vĩnh cửu. T́nh yêu sẽ
biết điều ấy.
21. Ánh sáng
bắt đầu buổi b́nh minh
Tôi đă t́m
chân lư nơi các nhà trí thức và triết lư thời đại. Tôi đă
say mê thiên văn và theo phái Manichee. Nhưng sau cùng tôi
không nh́n con người mà nh́n về Chúa , và tôi thấy ngài đang
giúp đỡ tôi làm điều ấy dù cho tôi chưa thích hợp cho việc
ngay cả đến gần ngài.
Chính lúc đó
Chúa phán với tôi qua những nhận thức nội tâm. Chẳng hạn có
lần tôi sợ vinh quang và sự thánh thiện của Chúa nên tôi run
rẩy sung sướng và sợ hăi. H́nh như có tiếng từ trời cao nói
với tôi: “Ta là của ăn cho kẻ mạnh. Hăy mau lớn lên và ngươi
sẽ được ta nuôi sống. Nhưng không như của ăn khác ta sẽ
không là thành phần của ngươi. Ngươi sẽ thành phần tử của
ta”.
Điều này giúp
tôi v́ tôi c̣n ngại do ư nghĩ Chúa là hay trở nên vật chất.
Đối với tôi ngài hoàn toàn linh thiêng hay không là ǵ cả.
Một hôm tôi nghĩ về điều đó và tự hỏi “có phải chân lư thực
sự không hiện hữu, khi nó không ở trong không gian giới hạn
hay vô cùng?” Và Chúa lại nói với tôi như từ một cơi bao la
nào đó: “Phải có chân lư: Ta là Đấng tự hữu.” Tôi nghe điều
ấy không phải nơi tai mà như người ta nói trong tâm hồn tôi.
Điều này làm cho tôi xác tín đến nỗi tôi không bao giờ hồ
nghi nữa là chân lư hiện hữu có thể thấy rơ, và hiểu được
qua những ǵ Chúa tạo thành, gồm cả con người.
Kinh nghiệm
này đưa tôi đến việc suy nghĩ về tất cả những thụ tạo của
Chúa. Tôi thấy không có vật nài có sự hữu tuyệt đối (v́ nơi
sự bị ảnh hưởng thời gian, sự hư hỏng, sự chết hay bị phá
hủy) nhưng chúng cũng không phải là không tự hữu. Chúng hiện
hữu nhưng không theo quyền của chúng. Chúng đều tùy thuộc
vào Chúa. Chúng hiện hữu chỉ v́ Ngài hiện hữu. Nhưng sự hiện
hữu của chúng không tuyệt đối v́ chúng không vĩnh cửu như
một ḿnh Chúa. Như thế mọi thụ tạo hiện hữu v́ do Chúa dựng
nên nhưng không thụ tạo nào hiện hữu cách tuyệt đối, v́
chúng không phải là Thiên Chúa.
Từ ư thức đó
tôi đi đến kết luận rơ ràng. Tôi phải khôn ngoan bám lấy
Chúa v́ xa ngài tôi sẽ không có sự hiện hữu tuyệt đối. Trong
ngài tôi có thể như ngài, như ngài đă nói cho tôi trước đây.
Rồi có dấu hiệu khác dựa trên một kinh nghiệm chung trong
cuộc sống hằng ngày, nhưng rất mạc khải cho tôi trong lúc
đó. Cũng cái bánh làm cho người khỏe thích thú và mát mẻ th́
làm cho người đau yếu muốn ói mửa; ánh sáng mặt trời vẻ vang
cho con người có đôi mắt tốt th́ lại làm đau đớn cho con mắt
yếu đau. Thế là tôi hiểu rơ sự công thẳng của Chúa làm cho
người yêu thích đường lối ngài mát mẻ và thích thú th́ lại
xấu xa xúc phạm đến người từ chối ngài. Hiểu được như thế
h́nh như soi sáng cho tôi trong cuộc chiến trường kỳ với vấn
đề sự dữ. Chắc chắn sự dữ có nguồn gốc không phải trong điều
căn bản, nhưng trong một thứ xấu xa tách rời Thiên Chúa, một
thứ ư chí hướng về những sự thấp hèn, đến nỗi sự tốt lành
của Chúa cuối cùng có vẻ xấu xa và sự xấu xa thành tốt lành.
Sự xáo trộn là
những tư tưởng đó tôi tin thật là do Chúa, lôi kéo tôi đến
với Ngài, nhưng thân xác và dục vọng luôn đẩy tôi xa ngài.
Tôi không bao giờ hồ nghi là Chính Chúa là Đấng tôi phải gắn
bó, nhưng tôi lại không thể làm điều đó, chỉ đơn giản thế
thôi. Tâm trí tôi luôn đặt ra những câu hỏi và những câu hỏi
đó Chúa trong ḷng từ bi luôn kiên nhẫn trả lời. Thân xác
tôi cũng đặt câu hỏi và h́nh như lúc đó nó mạnh hơn tinh
thần. Hơn nữa chính qua thân xác và cảm giác mà ta nhận ra
sự vật. Vấn đề của tôi là cảm giác không cho tôi nhận ra
chân lư.
Và tôi t́m con
đường khác. Tôi cảm thấy khả năng suy luận tôi bị cảm giác
của thân xác làm hư hỏng chẳng hạn khi tâm trí tôi muốn
hướng về những sự linh thiêng thần thánh th́ cả một chuỗi
những tưởng tượng h́nh ảnh nhục dục lại đi qua.
Nhưng tâm trí
tôi biết và kêu la lên rằng nó thích cái không thay đổi chứ
không phải cái thay đổi. Có lần trong chốc lát nó vượt lên
cảm quan thường lệ mở đường cho ánh sáng. Trong một dấu hiệu
sáng chói ḷa vừa kỳ diệu vừa làm sợ hăi, tâm trí tôi đă
thấy cái thực tại bên trong của hiện hữu như thế nào. Những
sự vô h́nh của Chúa được hiểu nhờ những cái hữu h́nh được
tạo dựng. Đó chính là bản thể sự vật ta hi vọng thấy cái
hiển nhiên của sự vật ta không thấy được.
Tuy nhiên tôi
không thể giương mất nh́n ra khung cảnh. Trong một hai lúc,
tôi lại nh́n vào những đối tượng tầm thường chung quanh.
Kinh nghiệm kỳ diệu của tôi chỉ c̣n là kư ức quí giá, hương
vị xa xôi của một bữa tiệc tôi thấy từ xa nhưng không thể dự
tiệc.
22. Quan niệm
sai lạc về Chúa Giêsu
Quan điểm của
tôi về Chúa Giêsu là ngài là người rất khôn ngoan hơn nhiều
người khác nhưng chính ngài chỉ là một con người. Tôi cho
ngài uy tín tối cao của bậc thầy và rất bị xúc động về ư
nghĩ ngài sinh ra đồng trinh nhưng làm cho tôi thắc mắc v́
đây là thí dụ cho thấy tinh thần ở trên vật chất. Nhưng tôi
không thấy được hậu quả tự nhiên của việc “Ngôi Lời nhập
thể”.
Như tôi thấy
cuộc sống của Chúa Giêsu là cuộc sống trong đó Ngôi Lời nhập
thể hiện diện hoàn toàn, linh hồn và tâm trí cùng làm việc
ḥa điệu. Mọi điều tôi đọc về ngài trong Thánh Kinh, niềm
vui buồn hành động và lời rao giảng, đưa tôi đến nhận biết
Chúa Kitô là người hoàn toàn và hoàn hảo. Tôi chưa quan niệm
được ngài là chân lư của Chúa hiện h́nh, nhưng tôi tin rằng
hơn mọi người khác ngài chuyên chở chân lư.
Bạn tôi là
Alipius lại có khó khăn khác. Anh nghĩ là người Kitô hữu tin
rằng, trong việc nhập thể, Chúa đă làm người theo phương
cách không c̣n linh hồn và tâm trí con người trong Chúa
Giêsu. Mọi sự Ngài có là Thiên Chúa và xác thịt. Khó khăn mà
niềm tin ấy gây ra cho Alipius là điều hiển nhiên. Làm sao
Chúa Giêsu có thể làm những điều trong Phúc âm trừ khi ngài
là một con người sống động suy nghĩ, một con người có hồn và
tâm trí?
V́ Alipius
nghĩ người Kitô hữu nghĩ như thế nên anh t́m ra chân lư chậm
hơn tôi. Sau này chúng tôi mới thấy chúng tôi đă hiểu sai về
chân lư liên quan đến Chúa Giêsu. Thật t́nh cờ, Alipius nhận
ra chuyện đó trước tôi. Phải qua một thời gian rất lâu tôi
mới hiểu được giáo lư Kitô giáo về “Ngôi Lời Nhập Thể”.
Điều làm tôi
bối rối căn bản là bị ám ảnh v́ là trí thức hay có vẻ như
thế lại được khen v́ sự tài giỏi. Tôi chờ đợi Thiên Chúa
thưởng công cho sự khôn ngoan của tôi. Nhưng sự khiêm nhu
của tôi ở đâu? Đâu là t́nh yêu của tôi đối với Chúa không nợ
nần tôi điều ǵ? H́nh như tôi là hai con người, một đàng
thích thẳng thắn với Chúa, người khác chỉ muốn thẳng thắn
thôi.
Lúc đó Thánh
Phaolô đến giúp tôi. Tôi quyết định đọc hết những sách của
Ngài và thấy ngài nói rất thích hợp với vị thế của tôi.
Chẳng hạn trong thư Roma ngài phải đối diện với vấn đề phái
Plato hay những triết gia khác chưa hề đặt ra. Nhưng đây là
những vấn đề làm cho tôi phải lo âu. Khi tôi đọc những câu
này h́nh như là những câu vọng lại những tiếng kêu thất vọng
của tôi: “Tâm trí tôi sung sướng trong luật Chúa, nhưng tôi
thấy cũng có luật khác trong con người tôi, đang chống lại
luật Chúa, và đưa tôi làm nô lệ cho luật tội lỗi vẫn ẩn tàng
trong người tôi. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác hay chết
này?” Và rồi có câu trả lời “Tôi cảm tạ Chúa, nhờ Đức Giêsu
Kitô Chúa chúng ta.”
Những sách của
các triết gia không bao giờ nói tới xung đột nội tâm đó. Họ
không nói đến những tinh thần lo âu hay con tim vỡ nát thống
hối.” Không có ông nào lên tiếng trong tác phẩm của ḿnh để
ca ngợi “Linh hồn tôi đợi trông Chúa v́ sự cứu độ tôi do
Ngài..Ngài là Chúa và là Đấng Cứu độ tôi, Đấng binh vực tôi.
Tôi sẽ không bao giờ lung lay.” Trong sách của họ bạn không
bao giờ nghe tiếng nói “Hăy đến cùng ta, hỡi những ai gồng
gánh nặng nề” v́ họ khinh bỉ những ai như Chúa Giêsu nói
“hiền lành và khiêm nhường trong ḷng.” Tại sao những điều
như thế không có trong tác phẩm của họ. V́ Chúa “đă dấu ẩn
những điều đó không cho những người khôn ngoan thông thái
biết, nhưng lại mạc khải cho người chưa biết nói.”
Khi tôi đọc
những lời của thánh Phaolô và những lời Thánh kinh khác, tôi
nhận ra rơ ràng vị trí của tôi. Tôi đang ngồi trên đỉnh núi
rậm rạp nh́n xuống mảnh đất an b́nh ở xa, không biết con
đường đến đó hay có thể vượt qua chướng ngại do lỗi lầm và
tội lỗi. Có một điều khác hoàn toàn tốt hơn, là rời khỏi
đỉnh núi an ninh nhưng chỉ là bề ngoài, và tin vào Thiên
Chúa dẫn đường, an toàn đi vào mảnh đất an b́nh. Sau cùng,
sau cùng, tôi cảm thấy ḿnh đang đi trên con đường đó.
Chương 5. Giây
phút của sự thực
Augustin trở
lại năm 32 tuổi, như thế tiến tŕnh t́m hiểu rất kéo dài.
Những chuỗi ngày đưa đến việc trở lại và những biến cố hiện
nay là một trong những chứng từ trong lịch sử Kitô giáo. Từ
lúc ngài cầu nguyện xin Chúa “làm cho con nên thánh nhưng
đừng làm ngay” cho đến khi có vài đứa nhỏ hát trong sân chơi
khiến ngài mở thư thánh Phaolô và đọc, câu chuyện của ngài
có tất cả mọi đặc tính của một cuốn sách đạo cổ điển. Tất cả
đều được kể lại với sự b́nh dị. Augustine không muốn mạ vàng
bông hoa huệ.
Có nhiều nhân
vật danh tiếng xuất hiện trong câu chuyện của Ngài. Ambrose
là một trong những nhân vật đó, làm giám mục Milan và những
ca khúc của ngài hiện nay giáo hội c̣n dùng để ca hát.
Người khác là Simplicianus sửa soạn cho Augustin chịu phép
rửa. Ông là người phụ tá Ambrose trong nhiều năm và sau khi
thánh nhân chết, khi chính Simplicianus trở thành ông già,
th́ ông kế vị thánh nhân làm giám mục thành Milan.
Nhưng ảnh hưởng quyết định do một người giáo dân mới trở
lại. Marius Victorinus là một nhà trí thức thời danh trong
thời đó, một triết gia theo phái Neo Plato và là nhà tu từ.
Việc ông trở lại đạo và nhất là việc ông công khai tuyên bố
điều đó đă làm cho cả Milan xôn xao và dĩ nhiên ảnh hưởng
tới sự thống hối của Augustin lúc đó đang c̣n do dự.
23. Những bước đi sau cùng: sức mạnh của chứng từ
Tôi đă đi đến chỗ không thể quay trở lại. Lời Chúa đă đi vào
nội tâm linh hồn tôi. Tôi cảm thấy Chúa đang bao bọc tôi tôi
không c̣n con đường nào trốn chạy được nữa. Tôi không c̣n hồ
nghi sự sống đời đời của Chúa, cũng như liên hệ giữa một hữu
thể vật chất và linh thiêng. Tôi đă trở lại tù trong ḷng
tôi. Tôi không c̣n t́m ra chứng cớ nào chống lại chân lư.
Nhưng trong cuộc sống trần gian th́ chưa giải quyết được
truyện ǵ. Trái tim tôi vẫn c̣n bị ảnh hưởng xấu do thế gian
và xác thịt. Càng cố gắng tôi càng không thể tưởng tượng
cuộc sống không có dục t́nh. Tôi không t́m thấy lỗi lầm ǵ
nơi Đấng Duy nhất là đường, là Đấng Cứu độ thế gian nhưng
tôi không thể lôi kéo ḿnh theo cửa hẹp đưa đến sự sống.
Lúc này Chúa dẫn tôi đến với một ông già khôn ngoan,
Simplicianus mà từ thời niên thiếu đă sống đạo đức. Chính
ông cũng đă dẫn giám mục Ambrose đến với Chúa trong những
năm trước. Lúc này, khi đă già h́nh như đối với tôi ông có
kinh nghiệm nhiều cũng như sự sáng suốt tinh thần có thể
hướng dẫn tôi qua sự lo lắng hiện tại.
V́ thế tôi đến với ông và giải thích sự bế tắc của tôi: làm
sao tôi đă kinh qua bao nhiêu kinh nghiệm, thụt lùi để tới
t́nh trạng này, và tôi không c̣n thấy thoả măn hay khoái lạc
trong sự thành công ở đời hay sự tung hô của thế gian; tôi
đă chán chường với kiểu sống của tôi và nhất là thân xác tôi
luôn điều khiển ư chí và không có ǵ đem lại cho tôi niềm
vui như Chúa. Nhưng tôi thêm là tôi bị mắc bẫy dục t́nh và
rất yếu về luân lư nên luôn lựa chọn giải pháp dễ chịu và êm
ái.
Tóm lại tôi cho ông hay tôi biết ḿnh đă t́m ra “hạt châu
báu” Chúa Giêsu nói tới, nhưng tôi hồ nghi không biết tôi có
sẵn sàng trả giá để được viên ngọc đó.
Simplicianus nghe và rồi thay v́ trả lời ông lấy một bản phê
b́nh tác phẩm của tôi về Victorinus giáo sư tu từ thời danh
mà tôi tin đă chết như một người công giáo.
Simplicianus thấy ngay là vấn đề của tôi không muốn khiêm
nhường hay tin rằng chân lư dấu ẩn cho sự khôn ngoan nhân
loại nhưng mạc khải cho trẻ thơ. V́ thế ông kể chuyện trở
lại của Victorinus cho tôi.
Victorinus là học giả danh tiếng thời đó trong khoa học tự
do, một người nghiên cứu phê b́nh các triết gia lớn có uy
tín, là người dậy học cho nhiều nghị sĩ. V́ những công việc
ấy mà ông có tượng ở Forum trong thành phố Roma.
Suốt đời ông đă thờ ngẫu tượng và thành tín theo đạo của
lương dân như mọi nhà lănh đạo Roma thời đó. Ông c̣n bênh
vực đạo cũ bằng những bài hùng biện vang lừng.
Khi về già ông học Thánh kinh, và t́m kiếm nghiên cứu các
tác phẩm kitô giáo khác. Ông thấy những tác phẩm đó rất
quyến rũ và thuyết phục nên ông đến thăm Simplicianus và nói
“Tôi muốn ông biết tôi là người Kitô hữu.” Nhưng
Simplicianus không hoàn toàn tin lời ông. Ông nói: “Tôi
không bao giờ tin điều đó hay nhận ông là Kitô hữu cho đến
khi ông công khai đến nhà thờ của Chúa Kitô.”
Victorinus cười. “Vậy những bức tường nhà thờ làm cho con
người thành Kitô hữu sao?”
Nhưng Simplicianus giữ vững lập trường trong nhiều tuần lễ,
người trí thức già nói lên là ḿnh là Kitô hữu nhưng thừa
tác viên th́ nói là ông không là Kitô hữu bao lâu ông chưa
sửa soạn gia nhập thân thể hữu h́nh của Chúa Kitô.
Victorinus thường kết thúc tranh luận của ḿnh với những lưu
ư về tường nhà thờ. Sự thật là như ông biết, ông sợ xúc phạm
bạn bè ông quen biết, những người theo thần dân ngoại, có
thể phản lại ông nếu ông bỏ đạo và tin nhận Chúa Giêsu cách
công khai.
Lâu lâu Victorinus có đọc lời cảnh cáo của Chúa Kitô trong
phúc âm là ngài sẽ không tuyên xưng trước mặt thiên thần
những người không dám tuyên xưng ngài trước mặt người đời.
Ông già bắt đầu sợ là cuối cùng ông sẽ bị từ chối v́ không
muốn tuyên xưng Chúa cách công khai. Ông cũng thấy rất nặng
nề khi trước đây ông tham gia những nghi thức ngoại đạo
trong đền thờ cách tự do và hănh diện nhưng bây giờ lại từ
chối nhận lănh bí tích Kitô giáo cách khiêm nhường, như
người mang Lời Chúa.
Một hôm ông làm cho Simplicianus ngạc nhiên khi ông nói
“Thôi, ḿnh đi nhà thờ. Tôi quyết định làm Kitô hữu.” Ông
Simplicianus sung sướng đến nhà thờ với ông, ghi tên cho ông
học đạo. Ông ghi tên ông làm tân ṭng muốn tỏ ra ḿnh đă
sống lại đời sống mới làm cho những người ở Roma ngạc nhiên
và Kitô hữu vui mừng.
Đến ngày tuyên xưng đức tin vị linh mục dành cho Victorinus
một lễ nghi riêng tư để công luận khỏi chú ư (một đặc ân
thường ban cho những trường hợp đặc biệt). Ông từ chối và
nói rằng ông muốn tuyên xưng đức tin trước mặt cả cộng đồng.
Dù sao ông nói, điều ông dậy trước đây chỉ là kiến thức nhân
loại. Tại sao vấn đề cứu độ quan trọng hơn lại không tuyên
xưng công khai?
Khi ông đứng lên tuyên xưng đức tin (ở Roma thường làm với
những mẫu kinh thuộc ḷng) cả cộng đồng nhận ra ông. Họ th́
thầm với nhau trong nhà thờ :”Ông Vctorinus đó!” Lúc sau họ
không thể ḱm hăm sự bất ngờ và sung sướng nên vui mừng la
lớn. Nhưng khi ông bắt đầu nói th́ cộng đồng im lặng v́ ai
cũng muốn nghe ông nói. Ông tin tưởng nói lên niềm tin của
ông và mọi người trong cộng đồng đều cảm động yêu mến ông.
24. Ṿng xích sắt
Câu chuyện Simplicianus kể cho tôi gây ảnh hưởng cho tôi.
Tôi đột nhiên muốn hăng hái theo gương Victorinus. Sau đó
trong thời hoàng đế Julian, Simplicianus cho tôi hay
Victorinus phải chọn hoặc tiếp tục dậy tu từ hay chỉ học
Thánh Kinh v́ sắc lệnh hoàng đế không cho người Kitô hữu dậy
văn chương hay tu từ. Dĩ nhiên Victorinus chọn con đường Lời
Chúa. Tôi coi như ông có phước hơn là dứt khoát, khi có thể
dễ dàng và rơ ràng quyết định như thế. Tôi ao ước có thể lựa
chọn dễ dàng như thế. Tôi cảm thấy ḿnh c̣n bị ràng buộc
bằng xích sắt của Kẻ Thù dù tôi không muốn. Điều xảy ra cho
chúng ta là những ước muốn không trong sạch phát xuất từ
những t́nh cảm sai lạc và khi nhượng bộ chúng chúng ta tạo
nên thói quen trở thành một thứ nhu cầu. Tiến tŕnh này ràng
buộc tôi như giây xích sắt. Ư chí mới của tôi muốn phụng sự
Chúa không đủ mạnh để chiến thắng ư muốn cũ bị hư hoại, đă
khó hơn v́ thành thói quen. V́ thế hai ư muốn của tôi tranh
chấp, cũ và mới, xác thịt và thần linh và cuộc tranh đấu làm
cho tâm trí tôi ră rời.
Đây là điều thánh Phaolô đă nói ” Xác thịt tranh đấu cùng
Thần Trí và Thần trí cùng xác thịt”. Tôi dă kinh nghiệm điều
mà thánh nhân và nhiều người khác đă có. Đây không phải là
điều độc đáo.
Chỉ v́ ư chí tôi thất bại. Tôi như người đang ngủ thức dậy
và muốn chỗi dậy và làm việc trong ngày, nhưng lại ngủ trở
lại.Tâm trí bị thuyết phục nhưng thân xác không theo tín
hiệu của nó.Chúa tỏ cho tôi điều tôi phải làm và tất cả câu
trả lời là “Vâng, vâng, con đồng ư. Sớm sủa. Con sẽ làm
ngay. Xin kiên nhẫn với con một chút nữa thôi.” Nhưng thực
sự cái sớm sủa càng ngày càng lâu và cái một ít nữa thôi
thành một thời gian lâu.
Tôi thấy tập quán xấu rất tệ hại, một thứ luật của tội lỗi
có thể làm cho tâm trí con người chống lại ư chí. Chúng ta
phải trá giá quá đắt khi sa vào tội lỗi với ư thức. Như vị
tông đồ đă viết “khốn khổ cho tôi, ai sẽ giải cứu khỏi thân
xác hay chết này? Tôi biết như ngài biết, chỉ có câu giải
đáp là ơn của Chúa Giêsu Kitô.
25. “Hăy làm cho con nên thánh nhưng xin đừng làm ngay”
Câu chuyện của Victorinus có ảnh hưởng lớn trong cuộc đời
của tôi và lại được củng cố do một kinh nghiệm mấy ngày sau.
Một người bạn ở Phi châu tên Pontitianus thăm tôi và
Alipius. Anh ta có địa vị cao trong dinh hoàng đế. Tôi không
thể nhớ anh đến thăm chúng tôi vào dịp nào nhưng tôi c̣n nhớ
rơ anh lấy cuốn sách thu thánh Phaolô trên bàn tôi. H́nh như
anh ngạc nhiên thấy cuốn sách ở đó và anh rất hài ḷng. Khi
tôi giải thích cho anh tôi dùng nhiều thời gian để học kinh
thánh, anh lợi dụng dịp ấy cho tôi hay anh là người Kitô hữu
và mới có dịp học hỏi những tác phẩm của một vị ẩn sĩ Ai cập
là Anthony. Cả tôi và Alipius đă nghe nói về ngài cũng như
sự canh tân tinh thần lớn lao kèm theo sứ vụ của ngài. Hàng
ngàn người đă vào tu viện hiến thân cho việc cầu nguyện và
phục vụ ngay giữa ḷng sa mạc.
Hơn thế nữa Pontitianus c̣n kể cho chúng tôi hay có một tu
viện đang phát triển ở Milan ngay ngoài thành phố, dưới sự
coi sóc của Ambrose. Chúng tôi sống ở Milan mà không biết ǵ
về chuyện đó. Rồi anh tiếp tục kể anh đă đi thăm Treves với
ba công chức, trong khi hoàng đế dự cuộc tranh đấu buổi
chiều ở hí trường. Cả bốn người chia làm hai nhóm và t́nh cờ
đi vào phía gần thành phố và hai người trong bọn đă vào một
lều tranh nơi có nhiều kitô hữu sống hoàn toàn trong sự từ
bỏ. Họ là những người có tinh thần nghèo khó sẽ được thừa
hưởng nước trời.
Tại đây hai ông đọc một cuốn sách của thánh Anthony. Đọc
xong anh ta bèn quyết định sống cuộc sống như thế không phải
một ngày kia, hay càng sớm càng tốt hay một lúc lâu sau,
nhưng ngay tại đó và lúc đó. Anh ngỏ ư cho người bạn nói anh
muốn đoạn tuyệt cuộc sống hiện tại và tham vọng và gia nhập
cộng đoàn nhỏ này ngay, không trở về thành phố nữa. Anh bạn
bất ngờ thay cũng muốn ở lại.
Khi Pontitianus và người bạn biết chuyện, họ cố gắng thuyết
phục họ trở về hoàng cung. Nhưng khi họ thấy hai người quá
thành thật họ cũng phải rơi nước mắt chúc mừng cho họ, hứa
sẽ nâng đỡ họ bằng lời cầu nguyện và rất khó khăn mới trở về
hoàng cung.
Hai người kia ở lại trong căn nhà nghèo đó, đầy tràn thị
kiến. Cả hai đều mới đính hôn nhưng khi hai nàng nghe chuyện
họ cũng quyết định hiến thân phục vụ Chúa và gia nhập tu
viện.
Nghe câu chuyện đó tôi thấy như ḿnh bị thúc nhắc. Điều này
bó buộc tôi nh́n vào ḿnh và ghét những ǵ tôi thấy. Trong
bao nhiêu năm từ khi tôi được 19 tuổi, tôi thường nói ḿnh
t́m kiếm chân lư. Thế mà lúc này tôi vẫn c̣n tŕ hoăn c̣n
chối bỏ trong khi những người này đă đáp lại tiếng gọi của
Chúa ngay không phải trong năm hay tháng hay tuần lễ mà
trong giây phút. Thực ra từ khi c̣n nhỏ tôi đă xin Chúa sự
trong sạch. Nhưng tôi hay thêm điều kiện ” Lạy Chúa xin cho
con tiết độ nhưng đừng cho ngay.” Tôi sợ Chúa trả lời ngay
và giải thoát tôi ngay. Điều tôi muốn là làm sao cho ứ tràn
dục t́nh.
Tôi điên khùng không quyết định nữa v́ tôi không chắc con
đường nào là đường chính ḿnh phải theo. Lúc này tôi ở vị
trí này, hoàn toàn chắc chắn về con đường, xác tín về chân
lư, thế mà c̣n do dự cầu nguyện là “Lạy Chúa xin làm cho con
nên thánh…nhưng xin đừng làm ngay.”
26. Một ngày trong khu vườn
Có một khu vườn trong nhà trọ của chúng tôi, chúng tôi được
tự do sử dụng v́ ông chủ nhà ở chỗ khác. Một hôm trong giai
đoạn tâm trí xao động, tôi vào vườn với Alipius. Tôi cảm
thấy ḿnh đang bị khủng hoảng. Tiếng tôi yếu đi và lạ kỳ,
mặt tôi nóng bừng và tôi bắt đầu khóc.
Tôi nói với Alipius “Anh nh́n, nh́n xem t́nh trạng của chúng
ta này. Người không được giáo dục và b́nh dân th́ là những
Kitô hữu dấn thân c̣n chúng ta, học cho nhiều vẫn c̣n bị xác
thịt hành hạ.” Chúng tôi ngồi xa căn nhà, tôi thổn thức và
khóc, anh th́ bối rối và bất ngờ. Lúc này tôi thấy tất cả
chỉ là vấn đề của ư chí. Ta không thể làm ǵ nếu ta không
muốn dù cho là giơ tay hay hoạch định một chương tŕnh du
lịch trên đất hay trên biển. Ta phải có ư chí muốn làm điều
đó một ư chí có quyết tâm và mạnh mẽ, không phải thứ ư chí
nửa chừng, do dự hay lập lờ.
Khi liên quan đến cơ thể, trừ khi bị thương tật hay yếu
đuối, ư chí và năng lực để làm chuyện ǵ luôn là một. Tôi
nghĩ đến chuyện giơ tay và tôi làm chuyện ấy.
Nhưng tại sao tâm trí lại chậm ŕ trong việc tuân theo ư
chí? Có phải khi ta muốn chuyện ǵ như cử động vật lư th́ ta
muốn toàn diện, c̣n khi ta muốn làm ǵ về luân lư hay tâm
linh, chúng ta chỉ muốn một phần hay nửa vời? Chính sự do dự
làm cho không hành động được. Chúng ta không làm điều ấy v́
trong nội tâm ta không chắc ḿnh làm điều ấy.
Lúc đó tôi ngồi trong vườn trong thế giới riêng tư của riêng
tôi. Bản tính cũ của tôi thừa hưởng của Adam và tội của ông,
cố gắng giữ tôi lại trong khi Chúa tăng cường tiếng gọi nội
tâm, gọi tôi dứt khoát với con người cũ và sống lại như con
người mới. Tôi tiếp tục nói với chính ḿnh “Nào hăy để
chuyện đó xảy ra bây giờ, xảy ra bây giờ” và khi tôi nói tôi
quyết định làm điều ấy. Nhưng tôi đă không làm. Tôi cũng
không đi vào bản tính của ḿnh. Tôi như đứng ngoài chính
ḿnh và nh́n xem cuộc chiến. Tôi đứng đó lưng chừng giữa
chết cho cái chết và sống cho cuộc sống. Tôi ngạc nhiên v́
những tập quán xấu giữ tôi lại.
Chúng th́ thầm “nếu anh bước theo bước đó, anh sẽ không bao
giờ nếm được khoái lạc do việc buông thả t́nh dục. Từ lúc đó
anh sẽ bị cấm làm những chuyện đó. Anh có thực sự sống với
chúng ta không?” Và dù cho tôi biết đó chỉ là tṛ chơi và
hời hợt, so sánh với giá trịĩnh cửu, tiếng của chúng có vẻ
mời gọi và sự hối thúc của chúng giữ tôi lại.
Nhưng dó chỉ là năng lực mờ nhạt dần; không có ǵ như thế từ
trước đến nay. Như là tôi thấy trước mắt tôi một thị kiến,
một h́nh ảnh toàn thể của cuộc đời mới, cuộc sống trong sạch
và kỷ luật. Đây không phải là khung cảnh mờ nhạt hay tiêu
cực. Khác hẳn thế. Nó hiện kích thích nhưng không phải là
t́nh dục. Tôi có thể thấy trong thị kiến nhiều hạng người
thuộc mọi lứa tuổi, thanh niên và thiếu nữ, bà goá già, ông
già, nhưng tất cả đều tươi cười chào đón và h́nh như chan
chứa niềm vui nội tâm.
Có tiếng nói với tôi “Anh không thể làm những điều như những
người này sao? Họ không làm những điều đó dựa trên sức ḿnh.
Họ đă có niềm vui đó qua sức mạnh Chúa của họ ban cho. “Bạn
lo lắng v́ bạn cố hoàn tất công việc đó với sức mạnh của
bạn, và như thế bạn không hoàn tất điều ǵ cả. Hăy ném ḿnh
vào ḷng Chúa và tin cậy vào ḿnh Ngài. Ngài không từ chối
và làm cho bạn sa ngă. Nhưng bạn phải tín thác hoàn toàn vào
ngài. Chỉ lúc đó và chỉ lúc đó ngài sẽ tiếp nhận và chữa bạn
lành.” Tôi do dự lại như đang nghe tiếng th́ thầm ma quái
nơi tai tôi “ANh có thể sống không có chúng ta măi măi
không?” Lại có tiếng từ trời “Hăy bịt tai đừng nghe tiếng
th́ thầm đó. Đó là tiến nói của bản tính sa ngă tội lỗi. Hăy
giết nó đi. Ta biết nó nói về mọi thứ mọi loại khoái lạc tội
lỗi nhưng chúng nghịch lại luật của Chúa.”
Cuộc tranh luận kỳ lạ tiếp tục trong ḷng tôi trong khi
Alipius khốn khổ ngồi bên cạnh tôi yên lặng đợi chờ cho cuộc
chiến kết thúc.
Khi đó tôi thấy ḿnh cần an tĩnh và tôi nói về điều đó, tôi
không rơ đă nói ǵ và rời Alipius, để không bị áp lực của
con người nào hết. Tôi nằm xuống gốc cây giẻ và khóc cay
đắng, “một hi sinh đáng Chúa chấp nhận Chúa ơi.” Tôi kêu lớn
tiếng những lời tương tự như sau : “Đến bao giờ, Chúa ơi?
Đến bao giờ ? Chúa giận con măi sao? Xin đừng nhớ tới tội cũ
của con.
Chính tội quá khứ và năng lực hiện tại của nó kêu tôi trở
lại. Nên tôi tiếp tục cầu nguyện “Đến bao giờ lạy Chúa? Ngày
mai và ngày mai? Tại sao không bây giờ?
Tại sao không
thanh tẩy con trong giây phút này?”
Rồi trong lúc
cầu nguyện tôi nghe có tiếng, như tiếng đứa trẻ trai hay gái
trong nhà bên cạnh lập đi lập lại vài tiếng nói tôi nghe du
dương như bài hát: Hăy cầm lấy mà đọc. Hăy cầm lấy mà đọc.”
Tôi dừng lại v́ tiếng nói. Tôi chưa bao giờ nghe con nít nói
thế khi chơi với nhau. Sự cay đắng và giọt lệ bỗng ngưng.
Tôi chỗi dậy và xác tín sứ điệp tự trời cao và đó là điều
nói với tôi bảo đọc nơi chương 1 tôi t́m thấy nơi cuốn sách
thơ thánh Phaolô đang mở sẵn. Tôi nhớ lại Anthony cũng đă
được bảo cũng một cách như thế bằng một đoạn Phúc âm h́nh
như có ư nghĩa với ông trong một giai đoạn cuộc đời. “Hăy đi
bán mọi của con có, và cho kẻ nghèo, và con sẽ có gia tài
trên trời. Rồi đến và theo ta.”
Thế là tôi trở
lại bàn nơi Alipius đang ngồi và lấy cuốn sách thánh Phaolô
tôi đang để đó. Tôi cầm lấy sách rất nhanh trong tay, mở
sách và đọc trong thinh lặng chương sách đập vào mắt tôi
“Không phải trong trác táng say sưa, trong việc đổi vợ chồng
hay tà dâm, không phải trong giận dữ và ghen tương: nhưng
hăy mặc lấy Chúa Kitô Giêsu và không chiều theo xác thịt hay
ham muốn của nó.”
Tôi không cần
đọc thêm. Ngay tức khắc khi tôi đọc hết câu,mọi bóng tối
nghi ngờ trước kia tan biến, như ánh sáng trong lành chói
lói tràn vào ḷng tôi. Tôi phải bỏ con người cũ, phải mặc
lấy con người cũ, và tôi phải làm ngay bây giờ.
Tôi gấp sách
đánh dấu chỗ vừa đọc và kể cho Alipius chuyện ǵ đă xảy ra
cách b́nh tĩnh. Anh cũng kể cho tôi những ǵ xảy ra trong
ḷng anh mà tôi không biết. Bấy giờ anh xin tôi cho đọc đoạn
kinh thánh tôi đă đọc nhưng anh đọc một đoạn xa hơn tôi
không biết ở đâu “Bây giờ kẻ yếu đuối trong niềm tin anh hăy
mang theo anh.” Anh áp dụng điều đó cho anh, anh nói với
tôi, và ngay lập tức, không do dự, anh theo tôi trong mục
đích và quyết tâm mới.
Ngay lập tức
chúng tôi vào nhà và kể cho mẹ tôi những ǵ đă xảy ra.
Khỏi cần phải
nói mẹ tôi vui mừng khôn tả. Như bà nói “Chúa c̣n làm hơn cả
những điều ta xin hay nghĩ tới.” Bà nói thế v́ bà chỉ giới
hạn lời cầu nguyện cho tôi trở lại. Nhưng Chúa đă làm quá
cho tôi khiến tôi quên cả tham vọng, ngay cả ước muốn có vợ,
và quyết định dấn thân cho qui luật cuộc sống Chúa đă tỏ cho
mẹ tôi trước đây bao nhiêu năm trước khi tôi chấp nhận, một
sự chấp nhận mẹ không thể tin có thể xảy ra.
Chương 6. Tin và
đau khổ
Việc trở lại
của Augustin làm cho ngài vui mừng và thoải mái, và cũng
mang lại niềm vui cho mẹ ngài. Việc chịu phép rửa tội của
ngài của Alipius và của đứa con tên Adeodatus là một cuộc lễ
lớn. Đáng buồn cho Augustin là sau khi ngài được rửa tội th́
mẹ ngài chết và đây là thử thách cho niềm tin mới của ngài.
Cuốn tự thú
kết thúc ở đây. Người con hoang đă trở về. Người quan sát và
cầu nguyện cho người con suốt cả cuộc đời đă vào chốn nghỉ
ngơi hằng mong đợi.
Cuộc đời của
Augustin c̣n tiếp tục. Ngài lập ḍng tu c̣n tồn tại đến ngày
nay. Ngài chịu chức linh mục năm 391 do giám mục Valerius
thành Hippo. Rồi khi giám mục chết 4 năm sau, Augustin được
chỉ định thay thế ngài. Ngài có ảnh hưởng lớn lao trên giáo
hội ngày nay, đă huấn luyện hàng giáo sĩ với 12 giám mục Phi
châu là người của ngài và viết rất nhiều sách phi bác lạc
giáo và chứng minh Kitô giáo theo truyền thống tông đồ.
27. Hậu quả
trên bạn bè
Quyết định đầu
tiên của tôi sau khi trở lại là bỏ nghề giáo sư tu từ. Bây
giờ tôi thấy nghề này chẳng khác ǵ bán cái lưỡi gian dối
không hơn không kém, dùng tài lợi khẩu không phải để phục vụ
luật pháp hay sự b́nh an, nhưng để thắng những tranh chấp
luật pháp. Cuộc trở lại của tôi xảy ra ba tuần trước khi hết
khoá học và dù đau đớn khi phải làm thế, tôi cảm thấy ḿnh
không đúng với các học sinh đang học tôi.
Tôi nói đau
đớn theo hai ư nghĩa. Linh thiêng, v́ mọi ước muốn kiếm tiền
không c̣n nữa và đó là lư do của mọi công việc tôi đă làm.
Nhưng vật chất v́ tôi bị đau phổi nên khó thở. Tuy nhiên
hoàn cảnh này cho phép tôi hạn chế lớp học và công việc cho
nên làm cho tiến tŕnh thôi dậy học dễ dàng hơn. Cũng tránh
cho tôi phải tuyên bố rằng tôi thành Kitô hữu tôi đă bỏ chức
vụ nhiều tiền và được kính trọng.
Tâm trí tôi
được tự do khỏi những ham muốn và giàu sang, cũng không bị
cám dỗ về không trong sạch hay tà dâm. Tôi chỉ ngồi trong
pḥng và tâm sự với Chúa như đứa nhỏ lắm chuyện.
Hai người bạn
và đồng chí Verecundus và Nebridius không có chia xẻ kinh
nghiệm trong khu vườn của chúng tôi. Verecundus rất bực bội
v́ ông thấy hội của chúng tôi sẽ tan vỡ. Anh bị đức tin lôi
kéo nhưng anh thấy vợ anh là chướng ngại duy nhất cho việc
trở lại dù cho vợ anh là người công giáo. Chỉ v́ như anh nói
“Tôi không muốn là Kitô hữu nhưng kém hai người v́ tôi không
thể là người độc thân.” Chúng tôi cố gắng khuyên nhủ anh là
anh có thể hoàn toàn trung thành với Chúa trong t́nh trạng
hôn nhân hiện tại. Nhưng khi đó anh không hoàn toàn bị khuất
phục.
Anh rất tử tế
nên cho chúng tôi mượn căn nhà ở nhà quê của anh ở
Cassiciacum và tại đó chúng tôi có thể sống trong khi chúng
tôi gặp khó khăn sau khi trở lại. Sau đó khi chúng tôi vắng
mặt anh bị đau mà lại đau nặng anh đă trở thành Kitô hữu.
Chúng tôi coi đó là dấu hiệu cho thấy Chúa thương anh và
thương chúng tôi. Chắc chắn chúng tôi rất buồn v́ anh rất
thân thiết mà khi chết không có mặt chúng tôi.
Nebridius cũng
trở lại với Chúa Kitô. Anh cũng theo bè rối cho rằng Chúa
Giêsu thực sự không mang lấy xác thịt con người nhưng chỉ là
hữu thể linh thiêng khi nhập thế. Nhưng trong thời gian
chúng tôi trở lại anh đă bỏ quan niệm đó và t́m kiếm chân lư
thực sự. Ít lâu sau anh cũng trở lại và mang cả gia đ́nh ở
Phi châu về với Chúa. Rồi như Verecundus anh bị đau và chết,
hiện nay anh đang ở thiên đàng.
Tôi nhớ anh
với nhiều thương mến và sung sướng nghĩ rằng anh đang ở bên
Chúa như người con đích thực trên trời như anh thường nói
với tôi trong lúc tôi cũng dốt nát về những sự siêu nhiên
như anh. Bây giờ anh không cần hỏi người hướng đạo không có
thích hợp và khả năng nhưng có thể uống sự khôn ngoan nơi
nguồn hiểu biết tràn đầy. Và tôi dám hi vọng anh cũng c̣n
nhớ đến tôi.
28. Niềm vui
của Thánh Thần
Khi khoá học
chấm dứt tôi có thể dành th́ giờ cho việc thiêng liêng nuôi
linh hồn tôi. Tôi viết nhiều thư vài thư cho Nebridius cố
gắng giải thích cho anh hay Chúa đă tỏ ḿnh ra cho chúng tôi
thế nào và làm chứng cho ơn Chúa trong cuộc sống của tôi. Và
Chúa hoạt động trong tôi trên sự thô kệch và kiêu ngạo, làm
cho tôi tuân phục và khiêm nhường, nhiều khi với những roi
vọt nhiều khi với sự ban phúc làm cho tôi vui mừng.
Tôi lại khám
phá ra những thánh vịnh của vua David, những ca vịnh tuyệt
diệu về niềm tin với những lời trách cứ sự kiêu ngạo. Đó là
cuốn sách tôi dùng trong thời gian ở Cassiciacum. Tôi coi
thánh vịnh David như của tôi, đọc lớn tiếng, để hi vọng cả
nhân loại có thể trả lời cho sứ điệp của những thánh vịnh
đó.
Tôi chỉ mới là
tập sinh yêu Chúa, người khách lạ mới tới trong thế giới ơn
sủng như Alipius.Nhưng có mẹ tôi ở với chúng tôi, người phụ
nữ có niềm tin trưởng thành, càng thêm tuổi càng kiên nhẫn,
sự thông cảm dịu dàng của một người mẹ, và sự đạo đức của
người Kitô hữu đích thực. Trong khi chúng tôi học giáo lư và
dần dần được giáo huấn về đức tin, th́ bà luôn nâng đỡ và
khuyến khích chúng tôi. Tôi cũng mở ḷng cho Thánh Linh. Tôi
đă nhận được ơn cứu độ. Chúa đă sai Con Ngài chết cho tội,
cho Ngài sống lại từ cơi chết và tôn vinh Ngài trong vinh
quang từ đó theo lời Kinh Thánh “Ngài tuôn tràn Thần Khí
chân lư Đấng an ủi.” Thánh Thần đă ban cho tôi, điều này đă
xảy ra nhưng tôi không ư thức về Ngài. Tôi đă được tha thứ
nhưng tôi chưa có sự b́nh an toàn diện v́ tôi c̣n lo lắng về
những chuyên quá khứ đem đến tội lỗi và nhất là v́ nhớ lại
những tội trong quá khứ.
Tại căn nhà
miền quê của Verecundus Thánh Thần bắt đầu công việc êm dịu
của người và mang niềm vui cho tâm hồn tôi. Qua đau khổ tôi
đến gần người hơn.
T́nh cờ tôi bị
đau răng kinh khủng. Làm cho tôi không nói được. Lúc đó v́
đau quá tôi xin bạn bè cầu nguyện xin Chúa chữa tôi. Tôi
viết thư xin cầu nguyện Và trong lúc chúng tôi qú xuống cầu
nguyện th́ cơn đau chấm dứt. Tôi sợ quá. Không hiểu đây là
thứ đau đớn nào? Nguồn gốc từ đâu? Và do quyền lực nào mà
không c̣n đau răng nữa? Nhưng trong nội tâm đă có lời xác
tín tôi cần. Ư Chúa nên trọn nơi tôi. Ḷng tôi hướng về Chúa
với niềm vui và ca tụng, căn bản trong niềm tin.
29. Ḷng
thương của Chúa trong bí tích rửa tội
Cuối mùa hái
nho khi sắp tới niên học ở Milan, tôi viết thư cho phụ huynh
học sinh biết tôi không dậy học nữa.Tôi cũng viết thư cho
giám mục Ambrose nói về những lầm lạc trước đây cũng như dấn
thân hiện tại và xin ngài cho ư kiến nên đọc sách nào để lớn
lên trong ơn sủng. Ngài đề nghị sách tiên tri Isaiah v́ ông
này nói rơ về phúc âm và ư định của Chúa cho người dân
ngoại. Tuy nhiên khi bắt đầu đọc tôi thấy cuốn sách khó và
tối tăm nên tôi không đọc, đợi khi nào được dậy dỗ về lời
Chúa rồi mới đọc.
Lúc này tôi
phải ghi tên chịu phép rửa nên chúng tôi bỏ miền quê và về
Milan. Có hai người cùng chịu phép rửa với tôi và tôi vui
mừng cho cả hai.
Người đầu tiên
dĩ nhiên là Alipius bây giờ là người Kitô hữu có niềm tin
khiêm nhường và kỳ diệu. Người thứ hai là con tôi, Adeodatus
và đây là phép lạ của ḷng Chúa quảng đại. Bây giờ cháu được
15 tuổi, đứa con của sự vô luân nhưng là đứa trẻ có tài năng
không ngoan và trưởng thành trong tinh thần. Đây là một lời
tạ ơn nhỏ bé cho tôi v́ tôi sợ như thế v́ tất cả những ǵ
tôi cho cháu chỉ là tội lỗi của tôi và cháu sinh ra do tội
lỗi đó. Điều làm cho cháu kính sợ Chúa chính là ơn Chúa hoàn
toàn, đă đem cha con chúng tôi đến đó ngay cả khi cả hai c̣n
mù loà không thấy sự thực.
Tôi rất vui
sau khi rửa tội cùng viết với cháu một cuốn sách,một cuộc
đối thoại giữa hai cha con nhan đề :Về sư phụ. Chúa biết rơ
mọi lời con tôi nói trong cuốn sách không phải là cháu nói,
cho thấy mới 16 tuổi đă có dấu hiệu lạ lùng t́m kiếm sự
thực. Cháu chết khi c̣n trẻ, chưa trọn vẹn ở thế gian nhưng
tôi tin tưởng hiện nay cháu được trọn vẹn trên thiên đàng.
Khi chịu phép
rửa chúng tôi đứng với nhau v́ trong thực tại của ơn sủng
chúng tôi chỉ là những đứa bé sơ sinh. Những lo lắng về tội
quá khứ và cuộc sống đă qua liền biến đi ngay, và trong
những ngày sau tôi cảm thấy vui khôn tả và đi sâu vào chương
tŕnh cứu độ của Chúa.
30. Một dịp ăn
mừng
Thường khi hát
thánh vịnh hay thánh ca trong nhà thờ tôi thường khóc v́ vui
v́ thấy bài hát êm dịu và ư tứ chứa đựng chân lư. Nhà thờ ơ
Milan khi chúng tôi tham dự luôn có bầu khí vui mừng ca
tụng. Một năm trước đây Justina mẹ của hoàng đế Valentinian
c̣n trẻ tuổi đă theo bà Arian và mưu toan đổi giám mục
Ambrose đi v́ ngài phi bác hoàn toàn những lư thuyết sai lạc
của Ario về bản tính của Chúa. Cả cộng đồng luôn canh gác
nhà thờ và vùng phụ cận sợ tay sai của bà đến làm hại hay
giết giám mục Ambrose. Mẹ tôi và những người khác suốt ngày
cầu nguyện để quân thù khỏi bạo động.
Trong lúc đó
nhà thờ Milan dùng thánh vịnh và ca vịnh trong phụng vụ
trước đây chỉ dùng trong giáo hội đông phương. Đem thánh
vịnh vào để giảm bớt căng thẳng khi phải canh thức lâu giờ
nhưng sau đó lại hạn chế và việc thực hành này hiện nay
không sử dụng trên toàn thế giới.
Từ lúc đó giáo
hội đă được giải thoát một cách đặc biệt. Chúa tỏ cho thánh
Ambrose trong một thị kiến nơi có hài cốt hai thánh tử đạo
Gervasio và Protasio được dấu ẩn trong nhiều năm. Khi nấm mộ
bí mật được mở ra và th́ thấy Chúa đă giữ cho hai xác không
hư thối. Ambrose thu xếp đem hài cốt vào chôn cất trong nhà
thờ. Chính trong lúc chuyển xác mà phép lạ thực hiện. Một
người mù trong thành phố ai cũng biết xin người hướng dẫn
đem anh đi rước và được phép rờ quan tài của các thánh bằng
khăn tay. Khi đă làm xong anh giụi khăn vào mất và lạ lùng
thay anh kêu lớn tiếng v́ khỏi mù, sự kiện này ai cũng biết
hết.
Kết quả là cả
thành phố rung động và chính hoàng hậu Justina dù không từ
bỏ bè rối, cũng đến nhà thờ nhưng không có bỏ ư định bách
hại giám mục Ambrose.
Tôi giả thiết
khi nhớ lại những biến cố trước khi được rửa tội, tôi đă
biết tuy không cho đó là dấu hiệu hay xác tín về đức tin, đă
làm cho tôi khóc khi đọc thánh vịnh. Không c̣n hối tiếc chỉ
c̣n niềm vui lớn lao tôi được hít thở trong ơn sủng Chúa và
t́nh yêu Ngài bao lâu con người có thể hít thở trong căn nhà
bằng đất này.
31. Mẹ tôi qua
đời
Một anh thanh
niên cùng quê tên là Euodius đă trở lại và rửa tội cùng về
nhà với chúng tôi. Anh cũng muốn theo luật sống và chúng tôi
định về Carthage và t́m cách phục vụ Chúa tại đấy. Chúng tôi
theo đường bộ về Ostia nơi cửa sông Tiber và định ở lại sửa
soạn ít lâu cho cuộc vượt biển.
Một hôm mẹ tôi
và tôi đứng nơi cửa sổ nh́n ra vườn trong căn nhà ở Ostia.
Như mọi khi chúng tôi nói chuyện với nhau. Chủ đề là cuộc
sống vĩnh cửu và cuộc sống của các thánh trên thiên đàng.
Trong khi nói h́nh như câu chuyện của chúng tôi vươn lên cao
như ra khỏi giới hạn của tâm trí. Chúng tôi cảm phục ḷng
nhân hậu Chúa và tiếp tục nói và nh́n vào ḷng ḿnh thấy như
có bàn tay Chúa ở đó. Chúng tôi ư thức hiện tại và ư thức
hiện tại rất rơ ràng: không phải cái quá khứ hay tương lai,
nhưng cái hiện tại như chính Chúa. Trong khoảnh khắc lời nói
của chúg tôi không phải của con người nữa. Tôi thực sự tin
là ḿnh đă nếm thử sự đời đời. Rồi chúng tôi thở dài và trở
lại với những ngôn ngữ thường ngày và những giới hạn của nó.
Nhưng bằng những lời đó chúng tôi muốn bắt lấy kinh nghiệm.
H́nh như vĩnh cửu là khi mọi xôn xao của thế giới lắng ch́m,
mọi miệng lưỡi con người không nói nữa, mọi tư tưởng con
người không c̣n, mọi tưởng tượng giấc mơ kư hiệu hay tượng
trưng đều dẹp bỏ, Và trong cơi yên lặng hùng vĩ đó chỉ có
Chúa nói, không qua con người, hay chữ viết, tiếng thiên
thần hay dụ ngôn, nhưng h́nh như chính Chúa đang tỏ bày mọi
sự.
Bên cạnh thực
thể vĩnh cửu đó, mọi niềm vui của trái đất dù cho tinh tuyền
nhất hay thánh thiện nhất cũng biến đi như vô ư nghĩa. Kinh
nghiệm như thế ban cho con người đă là kinh nghiệm của chúng
tôi trong khoảnh khắc nhận thức. Đây có phải chu toàn lời
hứa “Hăy vào hưởng niềm vui của chủ ngươi?” Nhưng điều này
có thể xảy ra khi ta mang thân xác thịt? Chắc chắn phải đợi
cho đến khi ta sống lại, biến đổi trong khoảnh khắc” đi vào
cuộc sống của sự sống lại. Rồi chúng tôi nói đến không phải
với những từ ngữ như thế. Nhưng Chúa biết hôm đó chúng tôi
đi vào việc chia xẻ kinh nghiệm làm cho cuộc sống cũng thành
hèn hạ và chúng tôi đă diễn tả với những thành ngữ như thế.
Khi xong, mẹ tôi nói.
“Augustin con
của mẹ, mẹ không c̣n thấy thú vị ǵ khi sống ở trần gian này
nữa. Thực ra mẹ không biết c̣n việc ǵ phải làm ở trần gian
này, cũng không biết tại sao Chúa c̣n để mẹ ở đây trong khi
mọi hi vọng đă thànhh sự thực. Chỉ một điều làm cho mẹ c̣n
muốn sống lâu hơn là niềm hi vọng thấy con trở thành Kitô
hữu thực trước khi mẹ chết. Bây giờ không những Chúa ban ơn
cho mẹ mà c̣n ban hơn nữa là thấy con bỏ gian tà những ham
hố trần gian và hiến thân phụng sự ngài. Vậy th́ mẹ sống làm
ǵ nữa ?”
Tôi không nhớ
tôi trả lời mẹ tôi ra sao nhưng chỉ trong ṿng năm ngày mẹ
lên cơn nóng lạnh. Bà bị nặng nên bất tỉnh luôn và chúng tôi
đều chạy đến bên giường bà. Khi vừa tỉnh lại và thấy tôi và
em tôi là Navigius bên cạnh bà hỏi chúng tôi “Mẹ đang ở
đâu?” Rồi nh́n vào chúng tôi bà nói:”Các con sẽ chôn mẹ tại
đây.”
Tôi im lặng
nhưng em tôi nói mẹ nên về quê hăy chết. Mẹ tôi lo lắng nh́n
em và nói “Hăy chôn thân xác này ở đâu tuỳ ư các con và đừng
lo lắng về chuyện đó. Mọi điều mẹ xin là chúng con hăy nhớ
đến mẹ khi các con chịu các phép bí tích, dù cho chúng con ở
đâu. Rồi mẹ không nói nữa v́ bà rất yếu và bịnh nặng thêm.
Tuy nhiên đối
với tôi cuộc nói chuyện ngắn ngủi đó đáng khen ngợi. Tôi
biết trong bao nhiêu năm mẹ tôi đă lo lắng ḿnh sẽ được chôn
cất ở đâu. Mẹ đă được phép sửa soạn chỗ nằm bên cạnh chồng
bà, và hi vọng sau khi rời nước Ư bà sẽ được chôn cất trên
mảnh đất quê hương ở Bắc phi.
Tôi không biết
mẹ tôi từ bỏ cái hi vọng mê tín đó ở đâu nhưng ít lâu sau
một người bạn ở Ostia cho tôi hay bà đă bàn căi với anh về
chuyện đó. Người bạn nói bà sợ chết xa quê hương. Mẹ tôi trả
lời: “Chỗ nào cũng gần Chúa cả. Tôi không lo lắng sợ rằng
trong ngày tận thế Chúa sẽ không t́m ra xác tôi ở đâu để làm
cho sống lại.
Mẹ tôi đau một
tuần. Rồi khi được 56 tuổi, khi tôi được 33 Chúa đă giải
thoát linh hồn mẹ tôi khỏi nhà tù thân xác yếu đuối và mệt
nhọc.
32. Buồn sầu
và tin
Khi mẹ tôi
chết tôi cúi xuống vuốt mắt mẹ. Đột nhiên buồn sầu tràn ngập
tâm hồn và tôi khóc thảm thiết. Con tôi là Adeodatus thấy bà
chết khóc lớn tiếng nhưng chúng tôi bảo cháu im và cháu b́nh
tĩnh lại. Tôi đè nén không khóc và khi đưa đám chúng tôi
không thích tỏ ra buồn phiền hay than khóc. Chúng tôi coi
chuyện đó chỉ dành cho những người tin rằng chết là hết hay
là mất mát. Dù sao mẹ tôi cũng chết sung sướng. Nghĩa là mẹ
tôi không chết v́ tôi biết niềm tin của mẹ sẽ đưa mẹ tôi về
thiên đàng.
Điều làm tôi
đau khổ trong ḷng chính là không được ở bên mẹ thân t́nh,
chấm dứt một cái ǵ quí giá và độc đáo cho chúng tôi. Mẹ gọi
tôi là đứa con tốt lành nhưng mẹ c̣n tốt với tôi rất nhiều
và những điều mẹ làm cho tôi có giá trị biết bao.
Sau khi bà
chết và Adeodatus đứng yên, Euodius bắt đầu hát thánh vịnh:
“Lạy Chúa tôi ca tụng Chúa nhân từ và là quan án” và cả nhà
hát với chúng tôi có cả những tín hữu và trong khi người ta
sửa soạn đám táng th́ tôi nói với họ. Tôi nghĩ hàng xóm sẽ
nghĩ là tôi không biết buồn khổ. Nhưng tôi biết trong ḷng
tôi như thế nào dù bên ngoài không tỏ ra dấu ǵ.
Tuy nhiên khi
mang xác mẹ tôi đi tôi đi theo không khóc cả khi dự thánh lễ
tại nhà mộ theo phong tục hồi đó. Nhưng trong ḷng tôi rất
buồn và tôi xin Chúa cất hết sự buồn khổ của tôi như là một
sự chối bỏ niềm tin.
Tôi nhớ lại
người Hilạp tin rằng đi tắm th́ sẽ hết buồn nhưng không giúp
ǵ cho tôi cả. Sau khi tắm tôi buồn ngủ và khi thức dậy buồn
khổ không c̣n nữa. Khi c̣n nằm trên giường bài thánh ca của
Ambrose đến với tôi và giúp an ủi tôi:
“Chúa tạo
nên trái đất con yêu
Đặt mặt trời mặt trăng ở trên
Chúa ban ánh sáng tràn ngày sống
Bóng tối cho mắt ngủ đêm thâu
Giấc ngủ cải tạo năng lực thân thể
để làm việc trong ánh sáng ban ngày
làm êm dịu tâm hồn tươi trẻ
dùng mọi điều săn sóc trên đời.”
Tôi bắt đầu
nhớ lại mẹ tôi khi tôi c̣n nhỏ: bà luôn đạo đức hiền dịu và
săn sóc. Rồi tôi lại khóc. Mọi giọt lệ tôi kiềm chế không
nổi lại trào ra. Chỉ ḿnh Chúa thấy tôi khóc nhưng tôi không
cho đó là tội lỗi hay bất trung với nguyên tắc của tôi.
Nh́n lại, tôi
vẫn c̣n khóc nhưng đó là những giọt lệ khác hẳn. Dĩ nhiên
tôi c̣n nhớ cuộc sống đạo đức của bà và niềm tin mạnh mẽ của
bà, nhưng tôi cũng phải nhớ lại bà cũng như mọi người chúng
tôi là một tội nhân và niềm hi vọng duy nhất được lên trời
là qua sự tha thứ có được trên thập giá du chính Con Thiên
Chúa, đang ngự bên hữu cha và cầu bầu cho ta.
Niềm hi vọng
duy nhất của bà là nơi hi lễ hoàn hảo đó nhờ thế dấu tội
được tẩy xoá, kẻ thù Satan bị dầy đạp và qua đó chúng ta c̣n
hơn những người chiến thắng nữa. Mẹ luôn gắn bó với bí tích
cứu độ suốt cuộc đời bằng giây ràng buộc của niềm tin. Mong
sao đừng có ǵ ngăn trở giữa bà và t́nh yêu Chúa. Tôi tin
Chúa đă nhận lời tôi cầu nguyện cho bà. Mẹ tôi không bao giờ
nói bà không phạm tội nhưng nói là Chúa đă tha tội cho bà.
Hăy nghỉ b́nh
yên với chồng của mẹ là Patricius mà mẹ đă đưa về cho Chúa.
Hai người, cha mẹ tôi trong cuộc đời phù du này, cũng là anh
em chị em của tôi trong giáo hội, và đồng bào của tôi trên
thành thánh Jerusalem mới.
Phần II.
Chương 7. Thầy
dậy và nhà giảng thuyết
Phần này là
tuyển tập nhỏ, những bài mẫu trong kho tàng tác phẩm đồ sộ
của thánh Augustin về cuộc sống Kitô hữu và tu đức cũng như
những vấn đề lớn của đức tin.
Ta thấy thánh
vịnh quan trọng thế nào trong một giai đoạn cuộc đời của
Ngài. Cũng phản ánh ở đây một số những vấn đề ngài đă suy
nghĩ trong những năm hành tŕnh đức tin.
Điều đáng chú
ư là tâm hồn của thày giáo và nhà giảng thuyết. Augustin
luôn áp dụng chân lư thánh kinh nhưng ta phải công nhận là
không phải luôn luôn theo phương pháp chú giải hiện nay.
Nhưng ngài dùng kiến thức thánh kinh để đặt vấn đề, cảnh
sáo, sưởi ấm, khuyến khích và gợi hứng mà không có nhà giảng
thuyết hay văn sĩ thời nay sánh bằng. Giám mục thành Hippo
tuy qua đời năm 430 nhưng vẫn c̣n nói với chúng ta.
33. Nguy hiểm
của nói hành
Một trong
những gương mẫu của mẹ tôi là việc mẹ sử dụng lời nói chỉ để
mang lại b́nh an.
Mẹ chinh phục
mẹ chồng khi không bao giờ nói xấu bà ta, ngay cả khi mẹ
luôn bị chỉ trích nhiều, sau này bà mới biết, qua những tin
đồn ác ư trong nhóm đầy tớ. Sự kiên nhẫn và miệng lưỡi dịu
hiền đă chinh phục bà nội tôi.
Qui luật của
mẹ tôi là chỉ nói với người khác điều có thể làm cho hai
người thù nhau giải hoà, không bao giờ làm cho người ta ghét
nhau. Nếu bà nói riêng cho từng người đang tranh căi, bà chỉ
nói những điều tích cực và giúp ích mà người kia đă nói. Đây
là một nhân đức nhỏ. Nhưng kinh nghiệm cho tôi thấy là, hầu
hết người ta trong những trường hợp ấy, có lẽ đây là một
trong những hậu quả của bản tính con người đă sa ngă, thường
có khuynh hướng nói đến những điều xấu xa nhất họ được nghe
và c̣n nói thêm nữa.
Không có con
đường hoà b́nh như đă nói, đúng hơn hoà b́nh là con đường.
34. Không phải
chúng ta biết ǵ nhưng tại sao ta biết
Lạy Chúa, Chúa
vui ḷng với người chỉ v́ họ không có kiến thức. Thực sự có
thể có người biết hết mọi sự phải biết trong thế giới bao la
này, chỉ trừ không biết Chúa và như thế cũng không biết ǵ
hết. C̣n như người khác có thể không biết ǵ những kiến thức
nhân loại, nhưng họ biết Chúa và họ sung sướng, thoả măn.
Nói đúng ra,
ai ở chỗ tốt hơn, một người có cây và cám ơn Chúa v́ những
ǵ tốt đẹp cây đó mang lại, hay người cũng có cây đó biết
cây nặng bao nhiêu và kích thước nó cho đến cái lá cuối
cùng, nhưng không biết là Chúa là Đấng Sáng tạo và qua Chúa
họ mới sử dụng được cây đó. Thực sự con người sau dốt nát dù
có nhiều dữ kiện, c̣n người trước th́ khôn ngoan dù họ không
biết nhiều chi tiết.
Như thế cách
chung chung kiến thức quan trọng nhất là biết Chúa. Một
người có kiến thức ấy như thánh Phaolô nói “không sở hữu ǵ
nhưng có mọi sự”. Chúng con không thể biết Đại hùng tinh
chạy ra sao, không thể phân tích những nguyên tốt hoá học
hay đo lường lục địa, tạo nên những yếu tố, nhưng chúng con
có thể biết Chúa, lạy Chúa, là Đấng Sáng tạo và là Chúa,
định cho sao trời chạy, tạo nên những nguyên tố và làm nên
h́nh thù đất trời biển cả. Biết người hoạch định chương
tŕnh th́ tốt hơn biết chương tŕnh.
35. Vâng lời
Chúa và Caesar
Có khác biệt
giữa luật Chúa và luật con người. Luật con người dựa trên
nhiều tập tục và thói quen khác nhau, c̣n luật Chúa th́ bền
vững và tuyệt đối.
Dĩ nhiên điều
ấy không có nghĩa chúng ta có thể khinh thường luật nhân
loại, luật quốc gia hay chính quyền mà không phải phạt. Luật
do hiến pháp một quốc gia hau dân tộc là ư muốn của toàn thể
và không thể chấp nhận cho cá nhân chống lại đoàn thể mà họ
chỉ là phần tử.
V́ thế người
có đạo tôn trọng luật quốc gia nhưng không thể ưu tiên hơn
luật Chúa. Khi Chúa truyền ǵ th́ phải làm. Phải, chúng ta
phải thi hành dù cho trái ngược với tập tục hay qui luật của
xă hội dù cho từ trước đến nay không có như thế. Nếu Chúa
truyền cho ta làm ǵ mà v́ lư do này nọ ta thôi không làm
th́ chúng ta phải làm lại. Nếu Chúa truyền phải xếp đặt điều
ǵ mà hiện tại không có, chúng ta phải xếp đặt.
Lư do rất đơn giản. Hoàn toàn hợp pháp cho nhà lănh đạo trên
thế gian ra sắc lệnh mới, và bề dưới bó buộc phải tuân hành
trừ khi nó vi phạm công ích. và như ta thường công nhận xă
hội có trật tự là ta vâng lời lề luật, th́ cũng có cá nhân
có thể chống lại luật đó.
Nếu ta không vâng lời luật nhân loại làm sao ta vâng theo
luật Chúa được? Trong trật tự xă hội nhân loại người lớn
chẳng hạn nhà nước được người nhỏ như cá nhân vâng lời. V́
quyền năng Chúa vô cùng cả vũ trụ phải vâng phục người và
không có biện luận ưu tiên cá nhân hay công ích nặng kư hơn
luật Chúa.
36. Tiếng nói của con tim
Tại trường tôi phải học tiếng hilạp và tôi ghét điều này.
Người ta bảo tôi truyện Homer rất tuyệt nhưng thực ra tôi
không thích ǵ. Tôi dám nói câu chuyện hấp dẫn, đối thoại
không ngoan và tinh tế nhưng cũng không giúp ǵ cho tôi. Khó
mà thích cuốn sách mỗi câu phải ngưng lại và dùng th́ giờ
tra từ điển hơn đọc truyện. Cũng không giúp được ǵ khi có
ông thày trước mặt mang thước kẻ và đánh đập mỗi khi ḿnh
sai.
Dĩ nhiên có thời tôi phải học tiếng latinh. Nhưng điều này
dễ dàng biết bao. Không ai đứng gần tôi. Không có áp chế và
đàn áp. Người vú nói với tôi khi tắm hay thay quần áo. Cha
mẹ tôi nói khi ăn cơm. Khi tôi làm chuyện ǵ khôn các ngài
khen tôi bằng tiếng latinh. Khi có ai làm tṛ cười cho tôi,
câu chuyện khôi hài cũng bằng ngôn ngữ quen thuộc đó.
Tự nhiên, thời gian qua, khi tôi muốn nói ǵ hay khen ai hay
làm cho họ cười, tôi nói tiếng latinh, có thể lúc đầu sai
nhưng không ai để ư. Đây là ngôn ngữ của tôi, ngôn ngữ của
trái tim, tôi học do người ta nói chứ không do thày giáo.
Điều quan trọng là sự ṭ ṃ,tự do và thích thú là cách học
tốt hơn học v́ cần, v́ sợ hay do thúc đẩy.
Rồi tôi tự hỏi trong những vấn đề siêu nhiên có như thế
không? Tôi có học con đường của Chúa v́ sợ v́ bổn phận và
thúc đẩy? Hay do tự do và niềm vui, chỉ v́ đang ở nhà cha
tôi? Tôi có thể biết được tiếng của Thánh Linh như khi tôi
nghe tiếng mẹ đẻ?
Tôi quyết định là câu trả lời là không. Những điều của Thần
linh không đến tự nhiên như tiếng mẹ đẻ cho người sa ngă.
Thích thú, vui và tự do giúp tôi học nhưng sau đó cần có, dù
tôi không muốn thế, sự thúc đẩy của Chúa, áp lực của Thánh
Thần, sự tự chế của Chúa qua những qui luật t́nh thương. Để
một ḿnh tự do và niềm vui sẽ đem chúng ta đến bến bờ nào?
37. Chúa như thế nào?
Chúa là ai ngoài Chúa ta? Thiên Chúa nào ngoài Thiên Chúa
ta? Chúng con mong biết Chúa như thế nào để hiểu làm sao
Chúa có thể hoà hợp bao yếu tố chọi nhau. Chúa tối cao trên
mọi sự, toàn năng, rất từ bi, nhưng lại hoàn toàn công
chính. Chúa có thể dấu ḿnh không cho chúng con thấy nhưng
vẫn ở với chúng con mọi lúc. Chúa là nguồn sự Đẹp nhưng cũng
của vật chất thô kệch. Chúa có thể hoàn toàn cho chúng con
tin cậy nhưng chúng con không thể nắm lấy Chúa. Chúa không
bao giờ thay đổi nhưng Chúa là nguyên nhân cho vạn vật đổi
thay. V́ Chúa vĩnh cửu, Chúa không trẻ không già, nhưng Chúa
làm cho mọi sự nên mới. Và im lặng không ai để ư Chúa lại
dẫn người kiêu ngạo trên con đường hư hoại. Chúa hoạt động
không nghỉ nhưng là nguồn sự ngơi nghỉ. Chúa nâng đỡ, tràn
đầy, binh vực, sáng tạo và nuôi sống hoàn hảo mọi sự.
Chúa yêu hoàn hảo nhưng không để t́nh yêu thành một sự ám
ảnh như chúng con. Chúa được diễn tả như người ghen tương
nhưng không ghen ghét hay bối rối. Chúa được diễn tả là giận
dữ nhưng không có tội và làm sai ư nghĩa. Chúa thay đổi hành
động nhưng không thay đổi mục đích.
Chúa có mọi sự nhưng Chúa hài ḷng khi thấy mọi sự nở hoa.
Chúa không ham hố nhưng Chúa đ̣i chúng con dâng tài năng và
khả năng thiên phú cho Chúa. Chúa không mắc nợ chúng con
điều ǵ nhưng Chúa trả hết nợ thất bại và tội lỗi cho chúng
con.
Thiên Chúa này là niềm vui thánh thiện của con. Con phải làm
ǵ để ca tụng Chúa?
38. Chúa và sự qua đi của thời gian
V́ mọi sự tốt lành do Chúa mà đến, lạy Chúa, và mọi tiến
tŕnh cứu độ của con do Chúa mà đến.
Chúc ban phúc cho con từ lâu, lâu trước khi con biết chúng
là ǵ và chúng từ đâu đến. Như trẻ sơ sinh điều con biết chỉ
là bú mớm và thoả măn với kết quả đó. Về sau con bắt đầu
cười và dần dà khám phá ra con là ai. Nhưng khi con ngỏ ư
cho những người chung quanh con, cha mẹ, bà vú, và nhiều
người khác con thấy con không thể làm chuyện đó. Con biết
cái con muốn nhưng con không thể thông hiệp với họ và họ với
con. Cuối cùng, bị uổng công, con vẫy tay kêu khóc và khi
không thành công th́ mặt đỏ lên v́ tức giận.
Điều này không có ǵ đặc biệt. Thường th́ kinh nghiệm hàng
ngày cho ta thấy con nít thường phản ứng như thế và dần dần
chúng học thông hiệp với người khác và thời gian uổng công
qua đi.
Như một đứa nhỏ con cũng có sự hiện hữu và cuộc sống và muốn
t́m cách thông truyền cho người khác về chính ḿnh. Điều này
hữu lư cho hữu thể do Chúa tạo thành. Chính Chúa là cái hữu
và là sự sống và trong t́nh yêu Chúa đă mạc khải Chúa cho
chúng con. Chúa đă thông truyền cái hữu và sứ sống đó cho
thụ tạo.
“Năm tháng của Chúa không hao ṃn..Chúa vẫn là thế.” Mọi năm
tháng của Chúa như ngày hôm nay. Chúng con từ tuổi thơ sang
tuổi trẻ và những tuổi kế tiếp, cho đến ngày hôm nay. Nhưng
ngày mai, với những ǵ phía trước, và ngày hôm qua, với
những ǵ dĩ văng, đều chứa đựng trong ngày hôm nay của Chúa,
không phải tương lai cũng như quá khứ nhưng đời đời là hiện
tại.
39. Đáng được chúc tụng
Chúa cao cả, và đáng được chúc tụng: quyền năng Chúa lớn lao
và sự khôn ngoan Chúa vô cùng.
Như các thánh trên trời linh hồn con người cũng muốn thờ
phượng Chúa, lạy Chúa, dù cho chúng con sinh ra để chết và
mang gánh nặng với kiến thức về điều ấy. Chúng con trong sự
kiêu ngạo nhỏ bé được sống, cũng muốn ca tụng Chúa. Do Chúa
vẽ ra, nên việc chúng con ca ngợi Chúa mang lại niềm vui kỳ
lạ không thể giải thích v́ Chúa đă dựng nên con cho Chúa, và
ḷng con không an nghỉ cho đến khi được nghỉ an trong Chúa.
V́ vậy, lạy Chúa, con có hai câu hỏi. Con quay về Chúa để ca
tụng Chúa hay để xin ơn tha thứ? Và biết Chúa hay quay về
Chúa, điều nào đến trước?
Không ai quay lại người họ không biết. Quay về người hay sự
vật cũng thế. Đàng khác theo ư Chúa th́ khi chúng con quay
về Chúa, xin Chúa giúp đỡ, th́ Chúa sẽ tỏ ḿnh cho chúng
con. Như sứ đồ Phaolô nói ” Làm sao họ kêu cầu người mà họ
không tin? Và làm sao học tin nếu không có người rao giảng?”
Nhưng người viết thánh vịnh xác định trong trường hợp khác:
“Ai t́m Chúa sẽ ca tụng Chúa..Ai t́m kiếm ngài sẽ thấy
Ngài.” Và dĩ nhiên ai t́m thấy Chúa sẽ ca tụng Chúa. Con sẽ
làm ǵ ? Con sẽ t́m Chúa, bằng cách quay lại cùng Chúa và
xin Chúa giúp. Nhưng con sẽ quay lại Chúa với niềm tin v́ sự
kiện là chân lư về Chúa đă được rao giảng cho con. Chính
niềm tin của con, Chúa ban cho qua Chúa Giêsu, Con Người, và
tỏ cho con qua sứ vụ của người rao giảng trung thành, làm
cho con quay về Chúa và xin Chúa giúp đỡ. Đức tin nói với
đức tin.
40. Thấy và tin
Người Kitô hữu tin rằng chúng ta có thể thấy Chúa theo một ư
nghĩa nào đó. Chúng ta không nghĩ đến điều đó, dĩ nhiên, khi
nh́n với con mắt vật chất. Chúng ta cũng không nghĩ tới điều
đó theo kiểu sử dụng thị giác thông thường, khi ta thấy
trong trí tưởng tượng hay hiểu hành động ư định hay ước muốn
của tâm trí ta.”Tôi thấy” có nghĩa như thế. Nhưng không thể
sử dụng về Chúa v́ ta không thể thấy ngài với mắt ta, cũng
không thể tưởng tượng người như thế nào, và cũng không thể
nắm lấy ngài bằng tâm trí. Như thế mắt, trí tưởng tượng hay
lư trí không phải là những phương tiện do đó ta có thể nói
là ta thấy Chúa.
Thánh kinh nói người có ḷng trong sạch th́ thấy Chúa
(Matt.5:8) Làm sao có thể thấy? Kinh thánh không hướng dẫn
ta rơ ràng. Sự thực, ta thường tin vào vào những sự ta không
thấy và không thể tưởng tượng: là Roma do Romulus thành lập
hay Constantinople do vua Constantine; là cha mẹ thụ thai ta
và chúng ta có tổ tiên khác và xa. Bây giờ chúng ta có thể
biết những sự ấy bằng thị giác (chúng ta không ở đó khi xảy
ra) hay bằng lư trí suy luận hay dấu hiệu. Ta phải chấp nhận
theo chứng từ của người nào khác.
Có người ta thấy được là đáng tin và chứng từ của họ không
mâu thuẫn với điều ta học được từ những nguồn tài liệu khác,
được công nhận như đáng tin. Như thế những sự về Chúa do
chứng người khác chỉ cho ta không thể chấp nhận được nếu mâu
thuẫn với kinh thánh. Vậy th́ liên hệ giữa tin và xem như
thế nào? Có phải lúc trước th́ ta làm với cái ǵ hiện diện
rồi sau đó ta làm với cái không hiện diện?
Không phải giản dị như thế. Ta có thể trông thấy với đôi mắt
vật lư, và nghe với tai vật lư, có người hiện diện với tôi
khi anh ta thuyết phục tôi làm ǵ. Hoặc hiện tôi làm điều
anh ta muốn không tuỳ thuộc vào sự hiện diện vật lư cũng như
sự thức tỉnh của tôi, nhưng tuỳ thuộc tôi có tin anh ta
không.
Vả lại, điều này tuỳ thuộc vào uy tín họ thúc giục tôi làm
có đáng tin không. V́ thế ta tin kinh thánh kể cho ta về
việc sáng tạo hay sự sống lại của Chúa Giêsu, dù cho ta
không chính mắt thấy những việc đó. Chúng ta tin lời chứng
đáng tin.
Như thế kiến thức gồm cái thấy và cái tin. Ta là người chứng
cho cái ta thấy hay đă thấy trong quá khứ. Nhưng khi liên
quan đến sự ta tin th́ ta tuỳ vào chứng cớ người khác mà ta
tin là đáng tin. V́ vậy ta hữu lư khi biện luận rằng tin như
thế không kém việc xem v́ đàng nào ta cũng nh́n với con mắt
tâm trí điều ta sẽ tin cách chắc chắn.Kinh nghiệm chứng minh
điều đó khoa luận lư ủng hộ, và nó đặt căn bản trên sự hiển
nhiên của những người ta xét có liên hệ. Chúng ta có thể
nh́n sự vật với thị giác nhưng hiểu sai. Chúng ta có thể tin
với con mắt tâm trí điều ta không có thể xem thấy, và có thể
đúng.
Như tông đồ Phêrô nói “Dù anh em chưa xem thấy người bao giờ
nhưng tôi biết anh em yêu mến người” và như Chúa nói “Phúc
cho kẻ không thấy mà tin.”
41. Người
trong sạch trong tâm hồn thấy Chúa
Sau khi sống
lại ta sẽ mang thân xác thần thiêng. Thân xác hay hư nát và
hay chết này sẽ mang lấy sự không hư nát và bất tử. Như
thánh Phaolô nói: “Chúng ta sẽ biến đổi.”Và chúng ta sẽ thấy
Chúa trong thân xác linh thiêng ấy.
Nhưng có vấn
đề đặt ra ngay.
Ta thấy với mắt ta. Điều này có nghĩa là trên thiên đàng ta
có thân xác như ở trần gian, hoàn toàn với đôi mắt? Hay có
cách xem nào khác không cần giác quan của cơ thể? Thánh kinh
kể cho ta là Chúa là Cha thấy Con và rằng khi khởi đầu cuộc
sáng tạo ngài thấy ánh sáng bầu trời và biển cả. “Chúa thấy
mọi sự tốt lành ngài đă tạo dựng và này đây chúng rất tốt
lành” Nhưng Chúa là thần linh. Ta không tin ngài có thân xác
hay bị giới hạn bởi một h́nh thể vật lư. Như thế thị kiến
không thể chỉ gán cho cơ thể hay chỉ cho cơ thể mà thôi. Có
cách nh́n xem hợp với hữu thể linh thiêng. Qua thánh kinh
kiểu thị kiến linh thiêng ấy được diễn tả và coi như cao hơn
cái nh́n vật lư. Các tiên tri được gọi là những vị nh́n
thấy.
Khi nói thế chúng ta phải coi chừng lại bị rơi vào lầm lạc
khác nghĩa là cho rằng qua sự thân xác sống lại không những
cởi bỏ t́nh trạng hay chết và hư nát, nhưng c̣n cởi bỏ t́nh
trạng là một cơ thể như thế trên thiên đàng ta chỉ là thần
linh. Như thế là chối bỏ sự thân xác bất tử được thánh kinh
dạy rơ ràng. Điều thánh Phaolô nói là thân xác ta ngày sống
lại sẽ thay đổi, nhưng không phải là ngưng hiện hữu. Chúa
Giêsu là gương mẫu cho việc ta sống lại, đă nói là “xem thấy
cha trên trời”.
Nhưng câu hỏi quan trọng hơn là: ta phải hoàn tất điều kiện
nào để thấy Chúa trên trời? Chính Chúa đă trả lời cho ta
“Phúc cho người có ḷng trong sạch: họ sẽ thấy Chúa.”
Anh em biết tôi cảm phục giám mục Anbrose như thế nào, v́
nhờ người Chúa đă giải thoát tôi khỏi lầm lạc dẫn tôi đến ơn
cứu độ và phép rửa. Tôi rất thích mấy tiếng ngài viết về vấn
đề này không phải v́ cá nhân tôi thán phục ngài, nhưng v́
đặt căn bản trên chân lư Thánh kinh.
Ngài viết: “Ngay cả khi sống lại không dễ ǵ thấy Chúa, chỉ
trừ kẻ thanh sạch trong tâm hồn. V́ Chúa đă kê ra nhiều
người nhân đức được Chúa ban phúc nhưng chỉ có người trong
sạch trong tâm hồn có thể thấy Ngài.”
Nếu ngài bảo chỉ có người có ḷng trong sạch mới thấy Chúa
th́ có những kẻ khác không thấy Chúa: những kẻ không xứng
đáng, người không trong sạch và người không thực sự muốn
thấy Ngài. Nhưng người trong sạch trong ḷng sẽ thấy ngài và
không chỉ trong ngày sống lại. Họ thấy ngài khi ngài đến và
ngự trong ḷng họ, tại đây và lúc này.
V́ thế ta hăy thanh tẩy tâm hồn và dọn pḥng cho người để
ngài có thể mở mắt và ta thấy vinh quang ngài.
42. Sự hiện diện của Chúa
Dù Chúa hiện diện khắp nơi ngài không ngự trong người nào.
Và người cũng không tràn đầy con người ngài đang ngự với. Có
một chân lư về Chúa là ngài bao trùm vũ trụ bằng sự bao la
của ngài, như là ngài tràn đầy một nửa và c̣n một nửa khác
của ngài là những thụ tạo khác, nhưng qua phẩm chất của sự
hiện diện. Ngài là quyền năng nâng đỡ ta, hoàn toàn hiện
diện trong mỗi phần tử. Như Chúa nói qua tiên tri “Ta làm
đầy trời và đất” Không có nơi nào ta đi tới mà không có
ngài. “Tôi có thể tránh khỏi thần trí Chúa ở nơi nào và dấu
ẩn khi Chúa hiện diện ở nơi nào.” Nhưng có phải lạ lùng khi
Chúa tràn đầy mọi phần của vũ trụ lại bị tâm hồn con người
mà ngài tạo dựng trục xuất? Thánh Phaolô nói tới những người
“không có thần khí của Chúa Kitô” (Roma 8:9) và v́ ta tin
rằng Ba Ngôi Thiên Chúa không bị phân chia không thể nào
Chúa Cha hiện diện nơi người không có Thánh Thần ngự. Vậy
h́nh như hậu quả sẽ là Chúa hiện diện khắp nơi do bản tính
thiên chúa nhưng ngài không hiện diện trong mỗi người do ơn
sủng.DO vô tín và tội lỗi ta có thể trục xuất Thiên Chúa
sáng tạo ra khỏi tâm hồn thụ tạo của Ngài.
Nhưng v́ Chúa không ở trong hết mọi người người không làm
tràn đầy hết mọi người mà người ngự trị. Đàng khác tại sao
Elisha cầu xin cho hai thần trí của Elia ở trong ông? Và làm
sao ta có thể giải thích sự kiện có người thánh thiện hơn
người khác nếu Thiên Chúa không hiện diện hoàn toàn trong
họ.
Lại thêm vấn đề khác. Nếu Chúa hiện diện hoàn toàn nơi thụ
tạo của Ngài làm sao ngài hiện diện nhiều hay ít hay không
hiện diện ǵ? Câu trả lời ở chỗ thụ tạo có khả năng tiếp
nhận ngài, không phải do ư ngài muốn tuôn tràn. Vũ trụ ngài
tạo dựng và vẽ ra đẹp đẽ có khả năng tiếp nhận Ngài nên ngài
tuôn tràn trong mọi phần bằng sự hiện diện và quyền năng
Ngài. Nhưng tinh thần con ngừơi qua tội và phản loạn, đă trở
thành hoàn toàn xa lạ với người và nếu không có ơn tha thứ
và ơn sủng không có khả năng đón nhận ngài. Nếu mắt mù không
nhận được ánh sáng mặt trời điều đó không do lỗi của mặt
trời. Mặt trời chiếu sáng khắp nơi nhưng không phải hết tất
cả có khả năng tiếp nhận ánh sáng. Với Chúa cũng thế. Nếu có
người qua tội lỗi và vô tín ít nhận người th́ không làm giảm
bớt ngài. Chúa nơi chính ḿnh là toàn thể và hoàn toàn,
không cần t́m chỗ ở trong tâm hồn con người. Tâm hồn ta cần
người như phương tiện cho sự sống và mạnh khoẻ.
Chúa là Đấng đời đời có thể liên hệ, có thể hiện diện hoàn
toàn nơi mỗi cá nhân. Dù cho mỗi người tin có người theo
tŕnh độ khác nhau, theo khả năng khác nhau của mỗi người,
người hơn người kém, nhưng do ơn sủng ḷng từ bi ngài ngài
xây dựng họ thành đền thờ quí giá nhất cho Ngài, nơi ở trọn
hảo cho Ngài.
43. T́m mảnh đất cho cuộc sống hạnh phúc
Nếu ta nh́n đến những người vượt biển, đi tàu theo những
nguyên tắc khác nhau trong cuộc sống, chúng ta thấy có ba
loại. Có người không biết đến điều kiện và đi ra biển một
chút thôi, không có gió nhưng trong t́nh trạng im lặng. Họ
không cần cố gắng nhiều cũng đến đó nhưng sung sướng khuyên
kẻ khác theo họ.
Nhóm thứ hai trái lại,bị đánh lừa v́ vẻ yên lặng của biển,
đi xa hơn và để ḿnh đi khỏi quê hương. Nếu có ḍng nước
quyến rũ hay gió bất chợt nổi lên, ho sung sướng đi chấp
nhận băo tố như những vấn đề thích thú. Đôi khi gió ngược
làm cho họ phải xem lại bản đồ và hoạch định cho cuộc hành
tŕnh đến hải cảng b́nh an mà họ thiếu khôn ngoan đă rời xa.
Nhóm thứ ba gồm những người đă ra biển khi c̣n trẻ, nhớ lại
những dấu hiệu của quê hương, chỉnh địa bàn về ngay quê nhà
dù cho thời tiết hay số mệnh. Chính kư ức về quê nhà lôi kéo
họ chứ không phải sự khôn ngoan của kinh nghiệm.
Thực ra chúng ta là lữ hành t́m kiếm mảnh đất cho cuộc sống
hạnh phúc, Thành Tŕ của Chúa. Điều ta cần biết chính là cái
ǵ ngăn cản vào bến bờ là tảng đá lớn mọc lên giữa biển. Ta
phải sợ và cẩn thận tránh khỏi.
Nh́n nó rất đẹp và nằm trong màn ánh sáng đẹp huyễn hoặc.
Nhiều khi người t́m mảnh đất lại nghĩ mỏm đá hơn là mảnh đất
nên không c̣n tham vọng đi thêm. Có người c̣n bị cám dỗ bỏ
mảnh đất đi ra mỏm đá v́ thấy nó cao và cho họ nh́n xuống kẻ
khác. Nguy hiểm chính của ḥn đảo là nó có vẻ cho t́m người
kiếm mảnh đất hạnh phúc, con đường hấp dẫn khác nhưng chưa
đặt chân lên đó, và v́ thế nó đưa họ đi xa.
Mọi người t́m kiến thức đích thực về ḿnh và về Chúa phải sợ
mỏm đá này chính là kiêu ngạo và hư danh. Không có ǵ chắc
chắn trên đó cả. Nó sụp đổ và nuốt trửng những ai đi trên nó
tiêu diệt họ ngay nơi cửa sáng láng của mảnh đất hạnh phúc
mà họ thấy từ xa, nhưng họ điên khùng không thể vào được.
44. Khúc ca lên đền; suy niệm thánh vịnh 120
Thánh vịnh này gọi là khúc ca lên đền, ca khúc khi người ta
bước lên, từng bước một, lên đền thánh. Đây là thánh vịnh về
sự tiến bộ trên đường siêu nhiên: tiến lên từ thung lũng
nước mắt cho đến nơi hồng phúc. Ta hăy quyết định tiến lên
tự tâm hồn v́ Chúa Kitô, chính ngài đă xuống trần để ta có
thể lên trời.
Ta thấy trong dân Chúa có người đi lên và cũng có người thụt
lùi trong tội lỗi và thất bại. Ai tiến lên là người tiến bộ
trong hiểu biết siêu nhiên. C̣n kẻ thụt lùi là kẻ thoả măn
với “sữa” mà thôi trong khi họ có thể dùng những của ăn siêu
nhiên. Thường sự sợ hăi chận ta lại và sự khôn ngoan kéo ta
lên cao hơn.
Ta hăy tưởng tượng ḿnh như kẻ muốn đi lên. Việc đi lên này
xảy ra tại đâu? Trong ḷng ta. Ta khởi đầu cuộc đi lên từ
đâu? Từ khiêm nhu, thung lũng nước mắt. Và chúng ta sẽ lên
đến chỗ nào? Đến nơi mà thánh vịnh đă cho thấy “nơi ngài đă
chỉ định.”
Bây giờ, khi người Kitô hữu hoạch định để tiến triển trong
sự thánh thiện, đi lên chỗ Chúa đă định, th́ họ sẽ trở thành
mục tiêu cho kẻ thù tấn công cho miệng lưỡi thù nghịch. Ai
chưa kinh nghiệm cuộc tấn công đó không thể tiến lên cách
nghiêm túc được và ai không cảm nghiệm bây giờ th́ cũng chưa
lên đường.
Nhưng một khi anh em chị em Kitô hữu quyết tâm đi lên, khinh
chê những giá trị trần gian mau qua, đặt Chúa lên chỗ nhất
và coi khoái lạc hay sự mọi người biết đến chỉ có giá trị
thấp, sẽ thấy họ bị coi là kỳ cục và bị phê b́nh. Không chỉ
có kẻ thù tấn công họ. Có lẽ điều đau khổ hơn là sự phê b́nh
tiêu cực của bạn bè tưởng là cho ḿnh những ư kiến hay, v́
cho ư kiến là hành động ban phúc, giúp cho một người được
cứu độ, trong khi những cố vấn tối tăm đó lại làm cho bạn
hữu ḿnh không được khoẻ mạnh về phần linh hồn. Những cuộc
tấn công như thế do bạn bè hay kẻ thù Kinh thánh gọi là
miệng lưỡi phỉnh phờ. V́ thế trước khi đi lên người viết
thánh vịnh xin Chúa giúp đỡ chống lại cuộc tấn công đó: “Lạy
Chúa trong lúc lo âu và Chúa nghe lời con.” Tại sao Chúa
nghe? Để cho họ đi trên con đường đi lên, cho chân họ bước
những bước cao hơn, đến nơi ngài đă chỉ định. Và Chúa trả
lời cho lời cầu nguyện nào? “Lạy Chúa xin giải thoát con
khỏi những môi miệng bất công và lưỡi điêu ngoa.” Chính
những miệng lưỡi này không cho ta đi lên, đây là những tiếng
nói làm thất vọng, phỉnh phờ và làm sai lạc. Chỉ có Chúa
Đấng gọi ta lên cao có thể giải thoát ta khỏi những điều ấy.
45. Tên nhọn t́nh yêu: suy niệm thánh vịnh 120:4
Chúa trả lời ra sao cho miệng lưỡi phỉnh phờ? cho quân thù
làm thất vọng và bạn hữu không giúp được ǵ? Chính Ngài nói
với ta “Tên bắn của người quyền thế mạnh mẽ như than nguội.
Nguội đây có nghĩa là vô ích. Tiếng này giống nhau v́ làm
cho vật ǵ không c̣n tác dụng cũng giống như làm cho nó ra
vô ích.
Ta hăy xét đến những tên đó là phương tiện cho Chúa giải
thoát ta khỏi miệng lưỡi điêu ngoa là ǵ. “Tên nhọn của
người quyền thế” là lời của Chúa. Khi bắn ra nó đi thẳng vào
tâm hồn, không mang lại cái chết như mũi tên thường, nhưng
mang lại t́nh yêu và sự sống. Chúa biết cách đốt tên lửa
t́nh yêu và không ai bắn tên t́nh yêu giỏi hơn người đă đốt
lên tên Lời Chúa. Tên này thâu qua tâm hồn người yêu nhưng
để giúp họ yêu hơn và thâu qua tâm hồn t́nh yêu lạnh giá để
t́nh yêu lại cháy lên.
Như thế lời là tên bắn nhưng c̣n than nguội là ǵ? Chúng là
những cục than cháy làm cho những tư tưởng trần tục của ta
bị thiêu cháy, tiêu huỷ những ư nghĩ tiêu cực xấu xa do
miệng lưỡi điêu ngoa trồng vào. Anh em biết chuyện đó. Chúa
kêu gọi ta làm chuyện ǵ, nhưng ta lại nh́n và nghe những
tiếng nói làm cho chúng ta lạc đường. Điều ǵ làm cho bạn
nghĩ bạn có thể làm chuyện ấy? Tại sao người Kitô hữu khác
lại mạnh mẽ hơn bạn? Tại sao người bệnh hoạn hay phụ nữ
nghèo kia có thể mau mắn thi hành điều bạn cho là cực nhọc?
Như thế giới răn Chúa đâm thâu tâm hồn tín hữu khi họ hoàn
toàn nản chí v́ sự tự măn bị thương tổn, cũng như ước muốn
thành công và được coi trọng.
Than hồng được áp dụng cho điểm này, đốt cháy những cây cối
không mạnh khoẻ làm hư đất đai, những cây cối của những tư
tưởng và tham vọng thế tục, và làm nền cho Chúa xây dựng đền
thờ. Than làm cho hoang vu được ném vào cho ta phá huỷ những
ǵ sự dữ đă trồng trong ḷng ta.
Nhưng than có
thể “sống”. Than nguội là than chết c̣n than đang cháy là
than sống. Than cũng có thể là bức tranh vẽ sự trở lại: của
người đă chết nhưng được cho sống lại và để bên ḷ than
cháy. Kết quả thực kỳ diệu. Một tên bợm nhậu, người du thủ
du thực, người mê chơi, người gian xảo cũng có thể trở thành
Kitô hữu dấn thân, sốt sắng phụng sự Chúa và cháy lên như
than hồng.
46. Lều ở
Kedar: suy niệm thánh vịnh 120:5
Bây giờ người
viết thánh vịnh thốt lên tiếng kêu buồn thảm “Hồn tôi lưu
lạc phương xa, tôi ở nơi lều trại Kedar.”
Mọi người Kitô
hữu đều biết một điều ǵ trong cái khó hiểu này v́ điều ta
sống trên trần gian như kẻ xa lạ bị lưu đầy có một ư nghĩa.
Ta kêu Chúa từ “tận cùng trái đất.” Nhưng cuộc lưu đầy không
phải là một sự tṛn trịa, nhưng chỉ làm buồn khổ “Than ôi,
ngày cư ngụ của tôi thực xa xôi.”
Chúng ta thấy
ḿnh trong những lều trại Kedar. Chúng là ǵ? Tiếng Kedar có
nghĩa bóng tối và lều trại Kedar là lều trại của Ismael
những người theo ông chỉ thờ Chúa bằng xác thịt không siêu
nhiên và quá pháp lư. Người viết thánh vịnh đang ở nơi khô
khan và bóng tối tinh thần: “Tôi ở nơi lều trại Kedar.”
Kinh nghiệm
của ông ở đây c̣n cay đắng hơn :”Với người ghét sự hoà b́nh
con luôn hoà thuận, và khi con nói với họ, họ tấn công con
không cần biết lư do.”
Ai ghét hoà
b́nh? Chắc chắn là người phá huỷ sự đoàn kết.
Đoàn kết là hoà b́nh. Không đoàn kết phá huỷ hoà b́nh. Chúa
muốn cho giáo hội hợp nhất và hoà b́nh và sau cùng ngài sẽ
phán xét kẻ phá huỷ nó. Nhưng hiện nay v́ lợi ích cho hoà
b́nh ta được kêu gọi sống với họ cho đến ngày Chúa tách ly
người lành ra khỏi người dữ và chỉ đưa hạt giống tốt vào kho
của Ngài. V́ thế ta hiền hoà ở giữa những người ghét hoà
b́nh. Đây là những lời của những người thực sự thuộc về Chúa
Kitô nhưng được kêu gọi sống giữa cỏ lùng.
Ta c̣n phải làm chứng: yêu hoà b́nh, yêu Chúa Kitô yêu hoà
b́nh là yêu Chúa Kitô. Thánh Phaolô nói Chúa Kitô là b́nh an
của ta v́ ngài hợp nhất hai dân tộc đang xung đột “làm cho
cả hai nên một.”(Ephesô 2:14) V́ thế ta phải nói với người
xưng ḿnh thuộc về Chúa Kitô mà lại ghét hoà b́nh là “Tại
sao Chúa là sự an b́nh v́ ngài hợp nhất hai dân tộc thành
một, các bạn lại muốn làm cho một dân tộc thành hai? Làm sao
bạn có thể là người kiến tạo hoà b́nh khi bạn tạo nên chia
rẽ?” Nói thế với người ghét hoà b́nh là “ăn ở thuận hoà”.
Nhưng khi ta nói thế những kẻ thù của hoà b́nh “tấn công ta
vô cớ”.
47. Người canh không bao giờ ngủ: suy niệm thánh vịnh 121
Trong khi ta đi lên từng bước trong cuộc hành hương tinh
thần vào đền thờ Thiên Chúa, người viết thánh vịnh cầu
nguyện: “Xin đừng để chân con lung lay.”
Ai di chuyển chân ta? Ai di chuyển chân Adam trong vườn
Eden, làm cho ông lạc xa khỏi thiên đàng? Cũng chính là kẻ
thù đă rời chân ta khỏi con đường chắc chắn. Nhưng trước hết
ai đă di chuyển chân các thiên thần sa ngă với những hậu quả
trầm trọng như thế? Thánh Kinh nói cho ta là họ sa ngă v́
kiêu ngạo. Kiêu ngạo sẽ làm cho ta đi lạc xa Thiên Chúa và
sự thiện, khỏi niềm tin. Tin và tín thác là kẻ thù của kiêu
ngạo v́ tin diễn tả sự khiêm nhường: “Dưới bóng cánh Chúa họ
sẽ tín thác.”
Người viết thánh vịnh chỉ cầu nguyện: “Xin đừng để chân con
xiêu té.” Chúa cũng trả lời rất đơn giản: “Đừng để cho người
canh giữ buồn ngủ.” Nếu bạn không muốn sẩy chân rớt khỏi con
đường đi lên, th́ hăy coi chừng người giữ bạn khỏi ngủ mê.
Hăy coi chừng cho họ tỉnh thức và coi chừng bước đi của bạn.
Như thế bạn sẽ không ngă và chân bạn không xiêu té.
Nhưng ta có thể trả lời là: “Ta không có khả năng để chắc
chắn người giữ ta ngủ mất.” Dĩ nhiên ta không muốn người
canh giữ ngủ quên nhiệm vụ nhưng làm sao có thể ngăn cản
điều đó?”
Câu trả lời là: “Chọn cho đúng người canh giữ.” Chọn người
canh giữ không bao giờ ngủ. Có người như thế không? Dĩ nhiên
ai cũng có lúc phải ngủ. Câu trả lời trong thánh vịnh là:
“Đấng canh giữ Israel không bao giờ ngủ.” “Đấng canh giữ
Israel không bao giờ ngủ nghỉ.” Chúa không ngủ, ngài không
bao giờ không làm việc, ngài không bao giờ thôi công việc
vĩnh cửu là ǵn giữ và hướng dẫn dân người.
Trong cuộc tử nạn Chúa Giêsu đă đi qua sự chết vào sự sống
mở đường cho ta là kẻ tin ngài cũng đi qua sự chết đến cơi
sống. Nhiều người cho rằng Chúa chết: người ngoại, người do
thái, người xấu xa cho như thế. Niềm tin Kitô giáo được phân
biệt do niềm tin Chúa Kitô từ cơi chết sống lại “Chúa Kitô
một khi từ cơi chết sống lại, Ngài không c̣n chết nữa. Sự
chết không c̣n làm chủ được người nữa.” Chết là h́nh ảnh sau
cùng của giấc ngủ, chiến thắng con người sau cùng. Nếu bạn
muốn chọn người canh giữ không bao giờ ngủ th́ hăy chọn
người không bao giờ chết. Mọi con người đều ngủ, và mọi con
người đều chết. Do đó đừng đặt niềm hi vọng nơi người hay
chết nhưng nơi Chúa Kitô đă chiến thắng sự chết và như Cha
ḿnh “không bao giờ ngủ.” Chúa sẽ canh giử bạn không phải
một con người sẽ ngủ và chết nhưng Chúa của sự sống và chiến
thắng sự chết. Ngài sẽ coi chừng từng bước đi của bạn trèo
lên núi Chúa.
48. Đi ra đi vào: suy niệm thánh vịnh 121:8
“Chúa nh́n bạn đi ra đi vào, từ bây giờ và cho đến muôn
đời.” Ta hăy suy nghĩ một chút về sự đi ra đi vào. Đi ra đi
vào là ǵ?
Tôi xin đề nghị đối với chúng ta đi vào là cám dỗ và chiến
thắng là đi ra. Chúa như người thợ gốm, đặt b́nh nặn vào máy
thử rồi khi đă nung xong th́ đem ra. Khi thợ gốm đặt vào ông
không chắc về phẩm chất nhưng khi lấy ra th́ chắc. Chúa
“biết kẻ thuộc về ḿnh, ” người không bị vỡ dưới sức nóng và
chỉ có người khiêm nhường sẽ qua nổi cuộc thử thách.
Trong mọi cám dỗ chính khiêm nhường canh giữ ta. Ta trèo kên
từ thung lũng nước mắt hát bài ca Đi lên và khi ta đi lên
Chúa coi chừng cho ta cho đến khi ta an toàn đi vào đền
thánh. Thánh Phaolô nói: “Ngài trung tín và không để ta bị
thử thách quá sức chịu đựng.” Như thế Chúa coi chừng khi ta
đi vào thử thách và đi ra trong chiến thắng.
Một phần của sự coi chừng, khi ta đi vào, là làm cho ta khỏi
bị thử thách quá sức chịu đựng. Nhưng ngài cũng coi chừng
khi ta đi ra: ” Ngài cho ta con đường đi ra để bạn có thể
chịu được.”
Như thế ta đừng dựa vào sức ḿnh để tự vệ. Ta nên tin vào
Chúa để bảo vệ và ǵn giữ ta. Ngài không ngủ dù ngài đă ngủ
trong giấc chết v́ ta. Nhưng bây giờ ngài sống lại, ngài
không c̣n chết nữa.
Trong khi trèo lên từ thung lũng khóc lóc, ta đừng mất thời
giờ hay quay lại. C̣n vài con đường khác để đi và sự lười
biếng và kiêu ngạo cố gắng rủ ta theo con đường khác dễ dàng
hơn. Nhưng ta có thể từ chối và trèo cho vững chắc trên con
đường mục đích của ta, nếu sự tín thác nơi Đấng canh chừng
bước ta đi ra đi vào ngài giữ chân ta và che phủ ta khỏi mặt
trời thiêu nóng của ban ngày và ánh trăng lạnh lẽo ban đêm.
Nếu ta tín thác vào chính ḿnh th́ chân ta lung lay rồi, và
một khi đă xiêu té, dù ta có mức độ đức tin nào sự kiêu ngạo
sẽ làm cho ta mê ngủ và té nhào. Ai khiêm nhượng đi lên từ
thung lũng nước mắt đi lên núi Chúa là người cầu nguyện:
“Xin đừng để chân con xiêu té.”
49. Gierusalem trên trời: suy niệm thánh vịnh 122
Đây cũng là thánh vịnh đi lên. Người viết thánh vịnh muốn đi
lên, lên trời, hay như viết tại đây: lên Jerusalem. “Tôi vui
mừng khi người ta nói với tôi “Chúng ta hăy vào nhà của
Chúa.” Như đám đông tụ họp để hành hương nơi thánh địa,
người thờ phượng đi lên đền thánh Jerusalem. Họ chạy, họ hối
hả. Họ bị kích thích và ham muốn. Ta hăy để ḿnh bị kích
thích cùng với dân Chúa đi vào nhà ngài. Hăy vui với người
đă vào trước ta các tiên tri và tông đồ đă gọi ta “hăy đi
vào nhà Chúa”.
“Chân ta đứng
nơi tiền đường người, hỡi Jerusalem.” Thực sự họ chưa tới
nhưng đó là niềm tin và hi vọng như là chân họ đă đặt lên
đất thánh. Bạn thấy là bạn sẽ chiếm hữu được nhà Chúa nếu
bạn trung thành t́m kiếm nó. Người trèo lên sẽ khuyến khích
ḿnh khi nghĩ là họ đă ở đó. “Chân ta đứng trên sân của
người.” Điều này làm cho việc trèo lên dễ hơn.
Nhưng
Jerusalem nào đây? Jerusalem là tên một thành phố trên trần
gian thành phố hiện nay đổ nát. Tại sao ta mong đứng trong
đền thánh xa lạ và đổ nát? Nhưng người viết thánh vịnh qua
thánh thần không hát về Jerusalem dưới đất xây bằng đá gỗ
hay hồ, Jerusalem đă giết các tiên tri và ném đá những người
được sai đến, nhưng là Jerusalem trên trời, thành thánh mà
Phaolô gọi là “mẹ của tất cả chúng ta…vĩnh cửu trên trời.”
Jerusalem được
diễn tả ở đây là “được xây cất như một thành tŕ.” Khi David
nói thế th́ Jerusalem đă xây xong. C̣n thành phố đang được
xây là Jerusalem mới, không xây bằng gạch hay đá (như Phêrô
nói) có nền móng là Chúa Giêsu Kitô. Đây là thành phố trên
trời, có nền móng trên trời. Mỗi vị rao giảng chân lư giúp
cho việc cắt đá nhưng chính Chúa làm cho thành h́nh thể
thích hợp cho đền thánh ngài. Nếu ta có niềm tin ta là thành
phần của đền thờ mà ta mong muốn đi tới “Anh em được xây
dựng như những viên đá sống động..Anh em là đền thờ Thiên
Chúa.”
Đền thờ này có
đặc tính chói ngời:” Jerusalem được xây dựng như một thành
tŕ nghĩa là duy nhất với ḿnh.” Mọi người trong đó đều hợp
nhất. Như Thiên Chúa dựng nên nó, nó luôn như thế, không
phải nay thế này, mai thế khác. Chúa Kitô duy nhất và luôn
như thế. Và nếu ta, dưới áp lực của cuộc sống hàng ngày với
những giá trị mau qua và hoàn cảnh thay đổi, cảm thấy chúng
ta thay đổi, không kiên tŕ ta hăy nhớ lại là nếu ta không
thể đi lên, người sẽ xuống. Ngài đến với ta, người vĩnh cửu
vẫn là người, làm cho ta thành người mà chính ta làm không
được.
Rev. Ngo tuong
Dzung, Texas, USA.
|