|
MẶC CẢM TỘI LỖI - LỖI LUÂN LƯ - TỘI
I. TỘI, MỘT KHÁI NIỆM THẦN
HỌC
I.1. Khái niệm tội ngày nay có c̣n ư nghĩa
chăng?
Ngày nay, ở phương Tây, và có lẽ cả ở Việt Nam, từ “tội” không được hiểu
đúng nghĩa; nó gợi lên h́nh ảnh nhà luân lư chỉ biết dạy đời. Người ta
rất do dự để gọi một điều ǵ đó là “tội”. Khái niệm “tội” dường như đối
lập với tự do con người và sự triển nở nhân cách. Mặc cảm tội lỗi xuất
hiện như hệ quả không lành mạnh của những điều cấm kỵ ăn sâu vào vô
thức. Đối với những nhà phân tâm học, không có những tội nhân, chỉ có
những bệnh nhân. Những ư tưởng vừa nêu là một phản ứng mănh liệt chống
lại thời đại janséniste và một quan niệm về tội mang nặng tính sợ hăi sự
trừng phạt đời đời nếu con người không vâng phục các mệnh lệnh của Thiên
Chúa và của Giáo hội.
I.2. Đâu là mối liên hệ giữa mặc cảm tội lỗi
và tội?
Tội là một khái niệm tôn giáo, trong khi mặc cảm tội lỗi là một thực tại
tâm lư, một trạng thái cảm xúc. Mặc cảm tội lỗi dẫn đến sự hối hận. Mặc
cảm tội lỗi và sự hối hận có thể là không lành mạnh, thậm chí là bệnh
tâm thần, và khác với tội. Nhưng thường có mối liên hệ giữa mặc cảm tội
lỗi và tội theo nghĩa là: tội có thể kèm theo một mặc cảm tội lỗi.
I.3. Phải chăng Kitô giáo đă đặt con người
trong một trạng thái mặc cảm tội lỗi thường xuyên?
Một lối tŕnh bày theo kiểu janséniste về Kitô giáo, với một bộ mặt
nghiêm khắc của vị Thiên Chúa thẩm phán, chắc chắn làm tăng thêm mặc cảm
tội lỗi và sự sợ hăi, thậm chí là nỗi kinh hoàng về hoả ngục đời đời.
Lối tŕnh bày ấy đă tạo ra một h́nh ảnh về bí tích sám hối như phương
tiện cần thiết để tránh sự trừng phạt.
Nhưng thật ra sứ điệp Tin Mừng giải thoát chúng ta khỏi mặc cảm tội lỗi
khi minh chứng cho chúng ta thấy t́nh yêu thương xót của vị Mục Tử Nhân
Lành và của người Cha đối với đứa con hoang đàng. Nhận biết tội lỗi của
ḿnh là một tiến tŕnh giải thoát làm cho chúng ta đến gần với Thiên
Chúa nhờ ư thức rằng chúng ta cần đến sự trợ giúp của Ngài.
I.4. Có sự khác biệt nào giữa “lỗi luân lư”
và “tội” không?
Để hiểu rơ “tội” nghĩa là ǵ, phải xác định “tội” trong tương quan với
khái niệm “lỗi”. Hai khái niệm “tội” và “lỗi” không nằm trên cùng một
b́nh diện. “Lỗi” là một khái niệm luân lư; nó chỉ định một hành vi đáng
chê trách dưới cái nh́n của ư thức bởi v́ nó xúc phạm đến con người; nó
mời gọi sự tiếc nuối và ḷng ăn năn.
“Tội” là một khái niệm tôn giáo và Kinh Thánh. Đó là sự xúc phạm đến
Thiên Chúa, một sự thiếu hụt t́nh yêu Thiên Chúa làm tổn thương mối
tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Chúng ta nhận biết ḿnh là tội
nhân không phải bằng cách tự soi ḿnh, nhưng bằng việc chiêm ngắm t́nh
yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. “Tội” mời gọi sự hối tiếc, nghĩa là
sự đau khổ v́ đă xúc phạm đến Thiên Chúa.
Có mối liên hệ giữa “lỗi” và “tội”. Thật vậy, khi xúc phạm đến con
người, “lỗi luân lư” cũng xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng hiện diện trong
con người.
II. TỘI THEO PHÚC ÂM VÀ THEO THÁNH PHAOLÔ
II.1. Phúc Âm đề cập đến tội như thế nào ?
Phúc Âm nói nhiều về tha thứ hơn về tội. Phúc Âm đề cập đến tội khởi đi
từ sáng kiến của Thiên Chúa, Đấng đến thiết lập vương quốc của Ngài và
bày tỏ ḷng Ngài thương xót. Chúa Giêsu kêu gọi hoán cải, không phải đế
thoát khỏi cơn giận của Thiên Chúa theo kiểu Gioan Tẩy Giả đă làm, nhưng
để đón nhận Tin Mừng Nước Thiên Chúa và ơn tha thứ (Mc 1,15). Chúa Giêsu
đi bước trước đến với những người tội lỗi, v́ Người đến không phải v́
những người mạnh khoẻ, nhưng v́ những bệnh nhân. Người tha thứ cho người
bại liệt (Mc 2,5), cho người nữ tội lỗi (Lc 7,48), cho người ngoại t́nh
(Ga 8,11), cho Giakêu (Lc 19,9-10) và trên thập giá đă tha thứ cho những
kẻ sát nhân (Lc 23,34). Người tỏ bày ḷng thương xót của Thiên Chúa qua
những dụ ngôn con chiên lạc và người con hoang đàng (Lc 15).
Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng
loan báo sự
kết án và sự trừng phạt những kẻ vô tín khướt từ đón nhận lời thương xót
của Người (Mt 11,20-24; Mt 13,42) và Người khẳng định rằng tội chống lại
Chúa Thánh Thần sẽ không được tha (Mc 3,28-30). Tội ấy không được tha v́
nó là việc từ chối ơn tha thứ mà Thiên Chúa ban cho con người bởi Chúa
Thánh Thần.
Chính Chúa Giêsu, trong bữa Tiệc Ly, đă khẳng định tính trầm trọng thảm
khốc của tội: máu của Người phải đổ ra cho các tội nhân (Mt 26,28).
II.2. Theo thánh Phaolô, cốt yếu của tội là
ǵ?
Trong Kinh Thánh, từ “tội” mang nhiều ư nghĩa và chúng có liên hệ chặt
chẽ với nhau. Trước hết, tội là hành v́ có thể qui trách nhiệm cho con
người: đó là sự thiếu t́nh yêu đối với Thiên Chúa và sự bất tuân các
giới luật của Ngài.
Tuy nhiên, tội không chỉ là một hành vi, như đôi khi người ta nghĩ thế;
tội cũng là một trạng thái đang chịu. Thánh Phaolô chỉ cho thấy trong
chúng ta có một khuynh hướng xấu lôi kéo chúng ta làm điều ác. Thánh
nhân gọi nó là “sự tội” ở số ít, chứ không phải là “những thứ tội”,
những hành vi tội lỗi. Nếu không có Đức Kitô, con người chỉ là nô lệ của
tội (Rm 6,17-20): “điều tôi ghét, th́ tôi lại cứ làm’ (Rm 7,15-20).
Sự hướng chiều về sự ác làm cho tự do bị lệch lạc nêu trên được truyền
thống gọi là “concupiscentia”. Đó là một khía cạnh của “tội nguyên tổ” ở
trong chúng ta.
III. TÍNH TRẦM TRỌNG CỦA
TỘI
III.1. Đâu là sự khác biệt giữa tội trọng và tội nhẹ?
Mọi tội đều xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng chúng không có cùng mức độ
trầm trọng như nhau. Có thứ tội trọng và thứ tội nhẹ.
a. Tội trọng
Có những tội phá vỡ mối giao ước với Thiên Chúa và tước khỏi linh hồn sự
sống thần linh. Đó là những tội xúc phạm trầm trọng đến tha nhân hoặc
huỷ diệt phẩm giá con Thiên Chúa của chúng ta, và được phạm với một ư
thức rơ ràng về tính trầm trọng của chúng, cũng như một sự tự do đầy đủ.
Như vậy, tất cả những tội có đối tượng là một chất liệu nặng, được phạm
với ư thức đầy đủ và tự ư ưng thuận, đều là tội trọng.
Tội trọng = chất liệu nặng
(đối tượng) + ư thức đầy đủ (lư trí) + tự ư ưng thuận (ư chí)
Tội trọng c̣n gọi là tội làm cho chết bởi v́ chúng
làm cho mối tương quan với Thiên Chúa bị huỷ diệt (1 Ga 5,16-17). Khi
xưng tội, chỉ buộc xưng thú những tội trọng.
Cũng đừng lẫn lộn giữa tội trọng và các mối tội đầu, như đôi khi người
ta nghĩ. Những tội được gọi là các mối tội đầu bởi v́ từ chúng dễ làm
nẩy sinh những tội khác. Các mối tội đầu không phải là những tội trọng
nhất, nhưng chúng là nguồn gốc của mọi tội khác.
b. Tội nhẹ
Cũng có những tội không phá hỏng định hướng của đời sống chúng ta nơi
Thiên Chúa. Dù không phá vỡ mối hiệp thong với Thiên Chúa, chúng cũng là
một sự thiếu vắng t́nh yêu. Chúng ta gọi chúng là tội nhẹ.
Những tội có đối tượng là chất liệu nhẹ, hoặc đối tượng có thể là chất
liệu nặng nhưng được phạm khi không có ư thức đầy đủ hoặc không ưng
thuận hoàn toàn, được gọi là tội nhẹ. Nhiều tội nhẹ đáng kể gộp lại cũng
không làm cho những tội nhẹ này thành tội trọng, bởi v́ ở đây không phải
là vấn đề số lượng, nhưng là bản chất khác biệt của tội.
III.2. Nguồn gốc của sự phân biệt tội trọng
và tội nhẹ
Sự phân biệt giữa tội trọng và tội nhẹ không thấy rơ ràng trong Kinh
Thánh. Tuy nhiên, thánh Gioan nói về thứ tội dẫn đến sự chết và đối lập
với thứ tội không dẫn đến sự chết (1 Ga 5,16-17). Giáo hội sơ khai đă
phân biệt ba tội đặc biệt trầm trọng là: ngoại t́nh, bội giáo và giết
người.
Từ thời Trung Cổ, người ta phân biệt tội trọng và tội nhẹ. Sự phân biệt
tội trọng và tội nhẹ được nhận vào trong truyền thống Giáo hội với thần
học của thánh Augustinô.
Lm. Phaolô Nguyễn Thành Sang
Bài đọc thêm
MẶC CẢM TỘI LỖI
Ư NGHĨA CỦA TỘI
Ư NGHĨA CỦA ƠN THA THỨ
Xin ơn tha thứ, một tiến tŕnh có vẻ đơn giản bề
ngoài, nhất là khi nó được thực hiện trong sự thành thực với Thiên Chúa
ở ngoài bí tích thống hối. Chỉ cần đặt ḿnh trước sự hiện diện của Đấng
Tạo Hoá, xưng thú với Ngài những lầm lỗi của ḿnh và một lần nữa tỏ ra
sẵn sàng trước những lời gọi của Ngài. Thế mà sự đơn giản bề ngoài của
tiến tŕnh này lại có nguy cơ đánh lừa rất lớn. Thực tế, tiến tŕnh xin
Thiên Chúa thứ tha là một tiến tŕnh không chỉ rất khó khăn - nhiều
người đă kinh nghiệm được sự khó khăn này - nhưng cũng luôn phức tạp và
nhất là đầy những nhập nhằng. Ở đây tôi muốn làm cho dễ cảm nhận những
cơ may và những nguy cơ cố hữu trong việc t́m kiếm ơn tha thứ. Điều này
có thể sẽ giúp cho mỗi người dễ xác định mối tương quan tồn tại giữa ư
nghĩa của tội và ư nghĩa của ơn tha thứ.
CẢM THẤY CÓ LỖI: MỘT THÁI
ĐỘ THƯỜNG NHẬP NHẰNG
Chúng ta bắt đầu suy tư này bằng một điều hiển nhiên: để có ước muốn cầu
xin ơn tha thứ, trước tiên phải cảm thấy ḿnh có lỗi. Chính việc cảm
nhận ḿnh có lỗi lại khởi sự phát sinh những nhập nhằng của tiến tŕnh
hoà giải. Thật vậy, những nhà nhân học đă dạy chúng ta biết thế nào mặc
cảm tội lỗi là một trong những nơi đặc thù thực hiện ư muốn toàn năng có
trong mọi người, và làm sáng tỏ câu chuyện về tội nguyên tổ ở chương 3,
sách Sáng Thế. Nghĩa là việc nhận biết lỗi lầm, dưới vẻ bề ngoài khiêm
hạ, lại thường là một dịp củng cố sự quyến luyến kém lành mạnh với một
h́nh ảnh nào đó về chính ḿnh, một sự quyến luyến mà những nhà tâm lư
học gọi là “si mê chính ḿnh”. Chúng ta thử t́m hiểu bằng cách nhắc lại
cách ngắn gọn mặc cảm tội lỗi là ǵ.
Mặc cảm tội lỗi là ǵ?
Bản chất của mặc cảm tội lỗi được diễn tả rơ ràng bởi từ “cắn rứt”. Như
từ này gợi lên, mặc cảm tội lỗi là một sự “cắn rứt” của tâm lư bởi chính
nó. Nó diễn ra như thể con người tự tấn công ḿnh bởi v́ nó đă thất vọng
về chính ḿnh sau một thái độ nào đó. Mặc cảm tội lỗi tạo ấn tượng như
đang đứng trước một toà án nội tâm đ̣i buộc phải đền bù lại, và một cách
nào đó phải tạ lỗi. Tội tâm lư cũng đồng thời khởi động chiều kích tấn
công của chủ thể (chủ thể tự cắn rứt) và chiều kích t́nh cảm (chủ thể
không thích h́nh ảnh của chính ḿnh sau khi đă phạm lỗi). V́ thế người
ta dễ dàng nhận ra rằng, bị đụng chạm như thế trong hai chiều kích vừa
nêu giữa những chiều kích hợp thành, người có lỗi sẽ trở về với những
chiến thuật tâm lư tinh tế để tự trấn an và không phải bẻ mặt. Giờ đây,
chúng ta khảo sát một vài chiến thuật này, mà suy cho cùng là rất “si mê
chính ḿnh”.
Chiến thuật cự tuyệt lỗi phạm
Với nhiều người, nếu không muốn nói là với hết mọi người, nh́n nhận rằng
ḿnh đă phạm tội là thời khắc rất khó chịu. Cần ghi nhận rằng người ta
thích làm tha hoá người khác và chính ḿnh hơn là chọn lựa con đường tự
do. Việc ư thức về lỗi phạm luôn dẫn đến một “sự tổn thương nào đó về
ḷng si mê chính ḿnh”: “Tôi không tốt cũng chẳng tự do như tôi tưởng!”.
Chiến thuật tự nhiên của ước muốn toàn năng v́ thế sẽ cố chữa lành vết
thương này bằng việc cự tuyệt sự tồn tại của chính lỗi phạm: “Không, tôi
không có phạm lỗi”. Hoặc: “Vâng, tôi đă phạm lỗi, nhưng nó mạnh hơn tôi,
v́ thế tôi không có tội”. Việc lắng nghe kinh nghiệm riêng về con người
có lỗi của chúng ta và việc đọc lại kinh nghiệm của những người khác
giúp chúng ta khám phá ra nhiều cách thức dẫn đến việc cự tuyệt sự tồn
tại của tội. Chúng ta nhấn mạnh vài cách thức:
- sự hợp lư hoá: người ta thiết lập một lư luận ít nhiều lọc lừa để biện
minh cho thái độ vô luân. Thí dụ: “Tôi lừa dối vợ tôi, nhưng là để sau
đó gặp lại cô ta cách nồng nhiệt hơn và cũng để giúp cho người bạn t́nh
của tôi thoát khỏi ức chế t́nh dục”;
- sự chuyển dịch: chúng ta chuyển tính tội lỗi vào những lănh vực của
đời sống vốn không đụng chạm đến chúng ta cách trực tiếp, để tránh nh́n
vào những lănh vực nơi đó chúng ta có khả năng [phạm lỗi] thực sự và
trong đó chúng ta để cho lỗi phạm xảy ra. Thí dụ: một chủng sinh rất
chểnh mảng trong việc nghiên cứu thần học và khi xưng tội lại thú nhận
đă để cho những trẻ em của thế giới thứ ba phải chết đói;
- sự phổ thông hoá: đó là lư lẽ cổ điển: “Mọi người đều làm thế, v́ vậy
có ǵ đâu mà xấu”. Thí dụ: việc gian lận thuế; việc gian lận thi cử;
việc vi phạm luật giao thông.
- sự bù trừ: chúng ta tự làm trạng sư cho những yếu đuối của ḿnh khi
cho rằng những yếu đuối này cần để thúc đẩy những đức tính tốt. Thí dụ:
“Thật vậy, tôi rất cứng rắn trong các tương quan với những công nhân của
tôi, hoặc những giáo dân của tôi, nhưng điều đó giúp cho xí nghiệp của
tôi hoặc giáo xứ của tôi vận hành tốt”;
- sự trung lập t́nh cảm: chúng ta sử dụng một lối diễn tả trung lập hay
“luân lư” để dán nhăn cho một thái độ vô luân. Thí dụ: vài “b́nh rượu”
để chiếm lĩnh thị trường sẽ được gọi là “đạo đức trong giao dịch”. Hoặc
là sự chểnh mảng việc thực hành tôn giáo sẽ được gọi là “tôi đang t́m
kiếm”.
- sự phóng chiếu: chúng ta chuyển sang cho người khác lỗi lầm của chính
chúng ta.
- sự rèn luyện mang tính đối phó: chúng ta tập trung mọi nỗ lực luân lư
chống lại một thiếu sót làm phiền ḷng nhiều người, và bổng nhiên, chúng
ta không nh́n nhận những lỗi lầm đôi khi rất trầm trọng mà chúng ta phạm
phải ở nơi khác. Thí dụ: một người đang ŕnh rập những lỗi phạm của ḿnh
trong lănh vực giới tính và trở nên mù quáng đối với tính tội lỗi trong
lănh vực bổn phận nghề nghiệp của ḿnh;
- sự hoăn lại việc thực hành lấy cớ là chờ đợi một thời điểm rơ ràng
hơn: “Tôi đă chẳng muốn cho tiền trong cuộc vận động chóng nghèo đói,
bởi v́ tôi biết rất rơ rằng điều đó rất mập mờ và một phần tiền thu được
sẽ rơi vào tay của những kẻ độc tài”;
- sự xin xỏ đồi bại: chúng ta sắp đặt để gặp một linh mục hay một nhân
vật mẫu mực và thực ra là để nấp bóng quyền hành này mà xin xỏ những
việc phi nhân;
Những “chiêu thức” xoá mặc cảm tội lỗi này tỏ rơ rằng, người ta có thể
đi từ sự phản kháng nơi bản thân mà nhận biết ḿnh là tội nhân. Như Paul
Ricoeur đă nói rất chính xác, mặc cảm tội lỗi thường là sự tự che đậy;
điều mà nhiều đoạn Kinh Thánh đă không ngừng nhắc nhở chúng ta: “Quả
thật, ai làm điều ác th́ ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để
các việc họ làm khỏi bị chê trách” (Ga 3,20). Hơn nữa, chẳng phải những
lời của Chúa Giêsu được minh hoạ bằng bạo lực gây ra cho các tiên tri
thời Cựu Ước và bằng việc kết án tử chính Đức Kitô, Đấng là Ánh Sáng đó
sao? V́ thế chúng ta đoán ra rằng, khi một kitô hữu bắt đầu tiến lại gần
Thiên Chúa để được tha thứ, câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là: “Phải chăng
tôi nhận ra tầm mức khá chính xác về lỗi lầm của tôi hoặc phải chăng tôi
phục tùng một “chiêu thức” xoá mặc cảm tội lỗi v́ ḷng si mê chính
ḿnh?”. Trả lời cho câu hỏi này là quyết định đối với phẩm chất của tiến
tŕnh thống hối, và sau này chúng ta sẽ thấy làm thế nào câu trả lời có
thể trở nên dễ dàng khi chúng ta đă hiểu rơ khái niệm thần học về tội.
Nhưng trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng sự nh́n nhận tội lỗi c̣n có thể
bị rối loạn bởi một chiến thuật tâm lư hoàn toàn ngược lại với chiến
thuật cự tuyệt lỗi phạm: đó là chiến thuật thổi phồng mặc cảm tội lỗi.
Chiến thuật thổi phồng mặc
cảm tội lỗi.
Chúng ta vừa thấy ở trên, đối với nhiều người, việc ư thức về lỗi phạm
đă dẫn đến một “tổn thương” về h́nh ảnh của chính ḿnh. Nhưng lạ thay,
với một số người, việc ǵn giữ h́nh ảnh tốt đẹp về ḿnh hay về ḷng “si
mê chính ḿnh” sẽ được thực hiện một cách rất tinh vi khi tự cho ḿnh là
lỗi phạm quá đáng so với lỗi phạm thực mà họ đă phạm trong thực tế.
Chúng ta thử t́m hiểu tại sao.
Trước hết, tự nh́n nhận ḿnh là tội nhân cũng có nghĩa là nh́n nhận ḿnh
có tự do. Thực vậy, theo thần học cổ điển nhất, chỉ có tội khi với ư
thức và tự do khước từ đáp trả lại t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con
người. Thế nên khi một người phải chịu khuất phục một thực tại mạnh hơn
ḿnh, th́ cho dẫu v́ thực tại này mà nó thực hiện một hành vi khách quan
phi nhân tính, nó không phải tuyên bố rằng ḿnh đă phạm tội. Chính ở
điểm này mà mối nguy cơ về chiến thuật si mê chính ḿnh len lỏi vào. V́
cuối cùng, thật nhục nhă đối với kẻ nh́n nhận rằng ḿnh đă vi phạm điều
ǵ đó mà ḿnh “chẳng muốn”, đặc biệt khi điều đó đụng chạm đến hai lănh
vực đặc thù: xung năng dục t́nh và xung năng gây hấn! Thí dụ, nhiều
người rất nhục nhă thừa nhận rằng, cho dù đă hết sức cố gắng, họ cũng
không thể nào làm chủ được bản năng giới tính của ḿnh. Trước một sự
nhục nhă như thế, ước muốn toàn năng sẽ có khuynh hướng làm cho họ nói
rằng: “Không thể tưởng việc tôi phải chịu khuất phục bởi các xung năng
của ḿnh, nói cách khác, tôi không phải là ông chủ của chính ḿnh trong
mọi sự; thế nên tôi đă phạm tội!”. V́ vậy người ta đi đến chỗ nh́n nhận
là tội nhân trong một lănh vực nào đó, trong khi thực tế họ bị chi phối
bởi những giới hạn. V́ thế việc xin ơn tha thứ trong sự nh́n nhận tội
lỗi giả tạo trở nên dịp để họ phủ nhận những giới hạn thụ tạo của ḿnh.
Phương kế cậy dựa vào Thiên Chúa với bề ngoài có vẻ khiêm hạ, thực tế tỏ
rỏ là một chối từ giới hạn. Một điều rất trầm trọng trên b́nh diện thần
học cũng như tâm lư. V́ thế chúng ta thấy rằng, một tiến tŕnh sám hối
đích thực đ̣i hỏi con người phải dám làm một cuộc thẩm định lại những
xác quyết hay gần như xác quyết tâm lư và xă hội của ḿnh, hoặc phải dám
đối diện với những điều thuộc loại loạn thần kinh của chủ thể.
Như thế, việc xin ơn tha thứ có thể là một chối từ giới hạn. Nhưng nó
cũng có thể là một cách củng cố việc qui chiếu về chính ḿnh. Để thẩm
định điều đó, chỉ cần chú ư đến thái độ của một vài hối nhân hoặc một
vài người trong các cuộc họp nhóm để tổng kết và kiểm điểm đời sống. V́
vậy chúng ta nhận ra rằng, tự đặt ḿnh vào trọng tâm của cuộc tṛ chuyện
hay của nhóm không hiệu quả bằng việc tự cho ḿnh đích thực là tội nhân
hay phạm tội nặng nề làm trắc trở hoạt động của nhóm kiểm điểm đời sống!
Kẻ khiêm hạ thái quá thường t́m kiếm điều ǵ? Muốn được người khác hoặc
cả nhóm nói rằng: “Bạn thật đáng thương, bạn là người tốt”. Hơn nữa, chỉ
cần một chút chú ư đến bản văn về người con hoang đàng trong Tin Mừng
Luca chương 15 sẽ thấy rằng thái độ của người con thứ minh hoạ rơ cho
chiến thuật này. Bằng cách nói quá về t́nh trạng tội lỗi của ḿnh: “Con
không đáng được gọi là con cha nữa”, người con thứ đă thành công trong
việc đưa ḿnh vào trung tâm của gia đ́nh đến nỗi người con cả cảm thấy
bị cho chầu ŕa! Không buộc phải đọc dụ ngôn cách này, tôi đồng ư thế,
nhưng cách đọc này làm phải suy nghĩ, thật sự có nhiều lời cầu xin tha
thứ mà chủ thể tự hạ ḿnh, nhưng lại để lộ ra việc t́m kiếm một sự đảm
bảo cho ḷng si mê chính ḿnh cách thái quá không c̣n phù hợp nh́n từ
góc độ của Tin Mừng!
Chúng ta c̣n có thể vén mở một vài thái độ không lành mạnh khác diễn tả
việc thổi phồng t́nh trạng tội lỗi của ḿnh khi thú tội với Thiên Chúa
và c̣n hơn thế nữa trong khi thú tội với một linh mục. Thí dụ, chúng ta
có thể nhớ rằng tự cho ḿnh là tội nhân trầm trọng đôi khi là việc t́m
thoả măn ước muốn thích cảm giác bị trừng phạt. Từ đó dẫn tội nhân tới
việc khó có thể đón nhận những lời nói về ḷng thương xót của Thiên
Chúa. Cũng vậy, chúng ta có thể nhấn mạnh rằng thú nhận những việc trầm
trọng với một linh mục có thể là một cách ngụy trang để móc nối vị linh
mục này hoặc để trao cho vị này một “quà tặng” để mong được “quà tặng”
trở lại, như việc thú nhận về chính bản thân ḿnh chẳng hạn. Nhưng cả
hai thái độ, một đàng không chấp nhận những giới hạn của ư chí và đàng
khác củng cố sự tập trung về chính ḿnh, đủ làm nghi ngờ rằng, rơ ràng
không dễ ǵ tự nhận ḿnh là tội nhân cách thích đáng để nhờ đó sống cách
thích hợp lời cầu xin ơn tha thứ. V́ thế giờ đây chúng ta t́m cách nhận
biết làm thế nào một thần học lành mạnh có thể pḥng vệ phần nào cho tâm
lư khỏi phải lạm dụng tiến tŕnh hoà giải.
NH̀N NHẬN TỘI LỖI: MỘT SỰ
NH̀N NHẬN NGƯỜI KHÁC
Từ chối hay thổi phồng tính trầm trọng của lỗi phạm, hai chiến thuật mà
người ta dùng để cố gắng ǵn giữ ḷng si mê chính ḿnh khi vi phạm luật
luân lư hay không vâng lời Thiên Chúa. Hai chiến thuật này rơ ràng là từ
chối ư nghĩa đích thực của tội. Chúng ta giải thích điều đó.
Như chúng ta đă hiểu khi đọc những trang trên, mặc cảm tội lỗi là một
thực tại nội tâm của tâm lư con người. Để đơn giản hơn, chúng ta có thể
nói rằng mặc cảm tội lỗi chỉ diễn ra giữa tôi và tôi. Người khác, nghĩa
là tha nhân và Thiên Chúa, chỉ được xem xét dưới những h́nh thái đă bị
nội tâm hoá. Những hệ quả khách quan trong những cách cư xử của tôi đối
với họ thật sự không được đề cao đúng mức. Thế mà khái niệm kitô giáo về
tội được tiến hành trên chính việc xem xét đến bản chất của Đấng Khác.
Nh́n nhận tội lỗi chính là thử phá bỏ việc t́m kiếm thái quá chính ḿnh
luôn xảy ra ít nhiều trong mặc cảm tội lỗi. Tự thú nhận ḿnh là tội nhân
chính là làm cho sự hiện diện của Đấng Khác trở nên rơ ràng trong những
điều hiển nhiên của nội tâm. V́ phát hiện tội lỗi luôn là phát hiện ra
rằng cách cư xử tội lỗi không chỉ đă xúc phạm đến người khác là tha
nhân, nhưng nó cũng là sự khước từ Đấng Tạo Hoá và Cứu Độ là chính Thiên
Chúa. Tự nh́n nhận là “người có lỗi” thường là tự nh́n ngắm ḿnh trong
sự mất giá, trong khi tự nh́n nhận là “tội nhân” th́ đă tự từ bỏ việc
qui chiếu về chính ḿnh để nh́n nhận chủ đích lời mời gọi của Thiên Chúa
mà ḿnh đă từng nhạo báng. Như thế, ư nghĩa đích thực của tội lỗi góp
phần loại bỏ sự thái quá của ḷng si mê chính ḿnh bằng cách giúp con
người thẩm định cách chân thật hơn tầm vóc lỗi phạm của ḿnh.
Khi người có lỗi có khuynh hướng giảm nhẹ tính trầm trọng nơi cách cư xử
tội lỗi của ḿnh th́ việc tiếp xúc thường xuyên với Lời Chúa sẽ đặt họ
lại trước một vài xác tín nhắc nhở họ cách mạnh mẻ bề sâu của sự tha hoá
mà tội lỗi gây nên. Trước hết gương mặt của Chúa Giêsu trên thập giá, bị
biến dạng v́ sự đồi bại của con người, buộc họ đừng quên rằng mọi tội
lỗi đều làm hỏng gương mặt của tha nhân, làm méo mó các tương quan nhân
bản, dẫn đến chối từ sự thật, t́nh yêu, công bằng, và rốt cuộc lan
truyền một lối lư lẻ ức hiếp người vô tội. Kết đến, việc Chúa Giêsu phục
sinh chỉ cho thấy những vết thương nơi thân thể vinh quang của Người
khiến cho tội nhân không c̣n che giấu thực tại này: không chỉ tội của nó
có những hậu quả không thể cứu văn mà chính Thiên Chúa cũng không thể
xoá bỏ, nhưng lỗi phạm chống lại con người cách nào đó cũng là một xúc
phạm đến chính Đấng Tạo Hoá (Mt 25, 31tt). Cuối cùng, số lớn những bản
văn Thánh Kinh nhắc nhở rằng “chỉ ḿnh Thiên Chúa là Đấng cứu độ” hoặc
chỉ có Đức Kitô là Đấng cứu chuộc; những bản văn này đ̣i buộc người có
tội phải ư thức rơ ràng về sức mạnh gây tê liệt của tội lỗi, xui khiến
họ “làm điều xấu mà họ không muốn làm và ngăn cản họ làm điều thiện mà
họ muốn làm” (x. Rm 7). V́ thế, tự đặt ḿnh trước chiều sâu của t́nh yêu
Thiên Chúa được mạc khải nơi Con của Ngài là Chúa Giêsu, cũng chính là
tự đặt ḿnh trước tầm vóc và tính trầm trọng của tội lỗi nơi con người.
Nhưng nhiều người có thể bắt bẻ rằng phải chăng ở đây lại có một nguy cơ
nuôi dưỡng chiến thuật si mê chính ḿnh bằng việc thổi pḥng tính tội
lỗi khi nguyền rủa thái quá tội nhân? Không phải thế, nhưng với điều
kiện phải nhớ lại rằng người kitô hữu không tin vào tội lỗi, mà tin vào
“ơn tha thứ tội lỗi”. Nói cách khác, việc ư thức về sự chối từ t́nh yêu
Thiên Chúa chỉ có thể tránh khỏi cái bẩy thổi pḥng tính tội lỗi khi nó
được đồng hành bởi ư nghĩa đích thực của ơn tha thứ.
Ư nghĩa ơn tha thứ của Thiên Chúa: điều kiện
cho ư nghĩa đích thực của tội
Thật không dễ dàng nhận thức được ư nghĩa đích thực của ơn tha thứ. Có
lẽ đơn giản chỉ v́ có rất hiếm những cơ hội để chúng ta phải thực sự tha
thứ. Thật vậy, nghĩa cử tha thứ không được lẫn lộn với việc tạ lỗi, rất
thường diễn ra, và rất thường lẫn lộn. Không nghi ngờ ǵ nữa, sự lẫn lộn
này được nuôi dưỡng bởi những lối diễn tả như: “Thật không thể tha
thứ!”. Thế mà thực ra, mọi tội đều có thể được tha thứ, trong khi không
phải tội nào cũng có thể tạ lỗi được, bởi v́ ơn tha thứ là hồng ân tương
lai được ban cho những ai không thể tạ lỗi, nghĩa là cho những ai đă cố
ư làm điều xấu, nói cách khác là cho những ai đă phạm tội. Trong khi
việc tạ lỗi ghi nhận những điều kiện tương hợp [bào chữa] cho người đă
phạm lỗi (nó đă không để ư hoặc điều đó mạnh hơn nó, khống chế nó), ơn
tha thứ cách nào đó “buộc tội”: ơn tha thứ nhận biết rằng người khác rơ
ràng có tự do để chọn không thực hiện hành vi xúc phạm. Ơn tha thứ v́
thế không phải là bố thí bởi v́ nó không làm giảm thiểu sự tự do của
người khác khi nói rằng : “Đừng oán giận điều đó; con người vốn lỗi
lầm!”. Trái lại, ơn tha thứ ghi nhận con người có khả năng đánh mất
chính ḿnh và từ chối t́nh yêu. Rốt cuộc, ơn tha thứ nâng cao phẩm giá
v́ nó khẳng định: con người tội lỗi không phải là một con rối hoàn toàn
chịu khuất phục các xung năng hay những hoang tưởng của ḿnh. Ơn tha thứ
không chấp nhận sự khoan dung giả tạo v́ nó tin vào phẩm giá của tự do
con người. Nhưng như thế ơn tha thứ lại chẳng có một khía cạnh đáng sợ
sao nếu nó “kết án” cách sáng suốt ? Quả vậy, tôi là ai mà lại kết án
anh em ḿnh? (x. Rm 14,4). Chính Đức Kitô trên thập giá, bằng việc cầu
xin Chúa Cha tha tha thứ cho những kẻ sát hại Người, đă chẳng t́m cách
làm giảm nhẹ sự kết án bởi lời cầu xin ơn tha thứ khi thêm vào một lời
tạ lỗi: “Chúng không biết việc chúng làm!”. Đúng vậy! Chính v́ thế ơn
tha thứ chỉ có thể được ban tặng bởi Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể
biết được phải chăng con người đă thật sự phạm tội, hoặc bởi người bị
xúc phạm, khi kẻ xúc phạm can đảm nh́n nhận lỗi phạm của ḿnh.
Nhưng với việc nâng cao phẩm giá khi nhận biết lỗi phạm, như thế ơn tha
thứ được ban bằng ǵ? Chắc chắn không phải bằng việc quên đi quá khứ.
Trước hết bởi v́ có những sự xúc phạm không thể xoá nhoà trong kư ức và
cũng bởi v́ có những lỗi phạm trầm trọng đến nỗi đôi lúc thật cần thiết
nhắc nhớ lại chúng để tránh khỏi những tái phạm (Chúng ta thử nghĩ đến
nạn diệt chủng những người Do Thái bởi Đức Quốc xă chẳng hạn). Không, ơn
tha thứ không là sự quên lăng. Nó là ân huệ tương lai nhưng không cho ai
nhận biết tội lỗi của ḿnh. Ân huệ tương lai bởi v́ người tha thứ, trên
hết khi đó là Thiên Chúa, là người nói với kẻ phạm tội: “Tôi không nhốt
kín anh trong lỗi phạm của anh, tôi nghĩ là anh có khả năng thoát khỏi
sự tha hoá, hăy tiến bước, tôi tin anh”. V́ thế ơn tha thứ nhận được là
một thực tại gây kinh ngạc về ḷng tin tưởng của người khác dành cho tôi
ngay chính lúc mà họ hoàn toàn có lư do để mất ḷng tin vào tôi. V́ thế
ơn tha thứ nhận được phá vỡ ư muốn tự say mê ḿnh, bởi v́ tính hiển
nhiên của khả năng có một tương lai mới mẻ không phát sinh từ người mắc
lỗi, nhưng từ Thiên Chúa, Đấng bị xúc phạm nhưng thích tỏ rơ sức mạnh
của Ngài trong sự yếu đuối. Được tha thứ chính là có được một khám phá
hoàn toàn đảo lộn rằng ngay chính lúc ư thức về tội làm hối nhân không
c̣n tin tưởng vào chính ḿnh, th́ Thiên Chúa lại luôn tin tưởng vào một
tương lai mới mẻ của tội nhân.
Hơn nữa, ân huệ tương lai này là nhưng không! Điều này gia cố lại vết
rạn nứt của ḷng si mê chính ḿnh gia tăng bởi mặc cảm tội lỗi. Người tự
nhận biết ḿnh là tội nhân rất thích nói ít nhất có thể về những hành vi
tốt đẹp đáng để được ơn tha thứ, và như thế xoá bỏ được nỗi nhục nhă đă
không giữ lư tưởng mà họ từng ngưỡng vọng! V́ thế Thiên Chúa chẳng đ̣i
buộc điều kiện ǵ để tha thứ, ngoại trừ việc con người thật ḷng muốn
hướng về Ngài mà không hổ ngươi, và chấp nhận cố gắng sống phù hợp với
ân huệ tương lai mà Ngài đề nghị với họ. Rơ ràng, ơn tha thứ của Thiên
Chúa không ba hoa. Ơn tha thứ ấy không nói ồn ào về những xem xét to tát
đ̣i buộc hối nhân phải luôn hạ ḿnh hơn nữa, như một vài bậc cha mẹ
thường làm như thế khi không ngừng lặp lại với con cái những lỗi phạm
của chúng rằng: “Sau bao nhiêu điều mà cha mẹ đă làm cho con...!”. Thiên
Chúa hài ḷng khi nói với tội nhân: “Đừng phạm tội nữa. Và nếu con lo sợ
về bản thân ḿnh th́ đừng sợ nữa; Sức mạnh của Ta sẽ đồng hành cùng con
để con có thể t́m lại hương vị và khả năng yêu thương”. Kinh nghiệm về
ơn tha thứ chính là kinh nghiệm về sự kín đáo của một Thiên Chúa chẳng
bao giờ doạ nạt t́nh cảm. Được tha thứ rốt cuộc là kinh nghiệm về sự
khiêm hạ của Thiên Chúa. V́ thế, được tha thứ chính là được mời gọi phá
đổ sự khinh bỉ chính ḿnh có thể xảy đến, để t́m thấy sự khiêm hạ hạnh
phúc của kẻ t́m lại được lộ tŕnh tốt khi cùng bước đi với Đấng Cứu Độ
của ḿnh.
Như thế chúng ta tránh xa được những cái bẩy tự chiêm ngưỡng ḿnh của
mặc cảm tội lỗi! Trong khi “kẻ có lỗi” t́m cách thoái thác tội của ḿnh,
th́ “tội nhân” dám mở mắt nh́n ra những thông đồng của ḿnh với sự tha
hoá, nh́n ra những hậu quả phi lư của lỗi phạm qui tội cho Người Vô Tội,
Đấng đă đến để cứu chữa tội lỗi thế gian. Trong khi “kẻ có lỗi” tự tách
biệt để chiêm ngắm ḿnh nhiều hơn trong nỗi thất vọng về chính ḿnh, th́
“tội nhân”, khi nh́n nhận ḿnh trước Thiên Chúa, lại thoát khỏi sự cô
lập để khám phá ra tin vui từ Đấng Cứu Độ, Đấng đă trao tặng cho ḿnh
cách nhưng không tuyệt đối điều quư giá nhất trên trần gian: khả năng hy
vọng, khả năng sinh lợi đến gấp trăm nhờ Thiên Chúa.
Xavier THÉVENOT
|