MẶC CẢM TỘI LỖI - LỖI LUÂN LƯ - TỘI

                                   I. TỘI, MỘT KHÁI NIỆM THẦN HỌC

I.1. Khái niệm tội ngày nay có c̣n ư nghĩa chăng?

Ngày nay, ở phương Tây, và có lẽ cả ở Việt Nam, từ “tội” không được hiểu đúng nghĩa; nó gợi lên h́nh ảnh nhà luân lư chỉ biết dạy đời. Người ta rất do dự để gọi một điều ǵ đó là “tội”. Khái niệm “tội” dường như đối lập với tự do con người và sự triển nở nhân cách. Mặc cảm tội lỗi xuất hiện như hệ quả không lành mạnh của những điều cấm kỵ ăn sâu vào vô thức. Đối với những nhà phân tâm học, không có những tội nhân, chỉ có những bệnh nhân. Những ư tưởng vừa nêu là một phản ứng mănh liệt chống lại thời đại janséniste và một quan niệm về tội mang nặng tính sợ hăi sự trừng phạt đời đời nếu con người không vâng phục các mệnh lệnh của Thiên Chúa và của Giáo hội.

I.2. Đâu là mối liên hệ giữa mặc cảm tội lỗi và tội?

Tội là một khái niệm tôn giáo, trong khi mặc cảm tội lỗi là một thực tại tâm lư, một trạng thái cảm xúc. Mặc cảm tội lỗi dẫn đến sự hối hận. Mặc cảm tội lỗi và sự hối hận có thể là không lành mạnh, thậm chí là bệnh tâm thần, và khác với tội. Nhưng thường có mối liên hệ giữa mặc cảm tội lỗi và tội theo nghĩa là: tội có thể kèm theo một mặc cảm tội lỗi.

I.3. Phải chăng Kitô giáo đă đặt con người trong một trạng thái mặc cảm tội lỗi thường xuyên?

Một lối tŕnh bày theo kiểu janséniste về Kitô giáo, với một bộ mặt nghiêm khắc của vị Thiên Chúa thẩm phán, chắc chắn làm tăng thêm mặc cảm tội lỗi và sự sợ hăi, thậm chí là nỗi kinh hoàng về hoả ngục đời đời. Lối tŕnh bày ấy đă tạo ra một h́nh ảnh về bí tích sám hối như phương tiện cần thiết để tránh sự trừng phạt.

Nhưng thật ra sứ điệp Tin Mừng giải thoát chúng ta khỏi mặc cảm tội lỗi khi minh chứng cho chúng ta thấy t́nh yêu thương xót của vị Mục Tử Nhân Lành và của người Cha đối với đứa con hoang đàng. Nhận biết tội lỗi của ḿnh là một tiến tŕnh giải thoát làm cho chúng ta đến gần với Thiên Chúa nhờ ư thức rằng chúng ta cần đến sự trợ giúp của Ngài.

I.4. Có sự khác biệt nào giữa “lỗi luân lư” và “tội” không?

Để hiểu rơ “tội” nghĩa là ǵ, phải xác định “tội” trong tương quan với khái niệm “lỗi”. Hai khái niệm “tội” và “lỗi” không nằm trên cùng một b́nh diện. “Lỗi” là một khái niệm luân lư; nó chỉ định một hành vi đáng chê trách dưới cái nh́n của ư thức bởi v́ nó xúc phạm đến con người; nó mời gọi sự tiếc nuối và ḷng ăn năn.

“Tội” là một khái niệm tôn giáo và Kinh Thánh. Đó là sự xúc phạm đến Thiên Chúa, một sự thiếu hụt t́nh yêu Thiên Chúa làm tổn thương mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Chúng ta nhận biết ḿnh là tội nhân không phải bằng cách tự soi ḿnh, nhưng bằng việc chiêm ngắm t́nh yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. “Tội” mời gọi sự hối tiếc, nghĩa là sự đau khổ v́ đă xúc phạm đến Thiên Chúa.

Có mối liên hệ giữa “lỗi” và “tội”. Thật vậy, khi xúc phạm đến con người, “lỗi luân lư” cũng xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng hiện diện trong con người.

                              II. TỘI THEO PHÚC ÂM VÀ THEO THÁNH PHAOLÔ

II.1. Phúc Âm đề cập đến tội như thế nào ?

Phúc Âm nói nhiều về tha thứ hơn về tội. Phúc Âm đề cập đến tội khởi đi từ sáng kiến của Thiên Chúa, Đấng đến thiết lập vương quốc của Ngài và bày tỏ ḷng Ngài thương xót. Chúa Giêsu kêu gọi hoán cải, không phải đế thoát khỏi cơn giận của Thiên Chúa theo kiểu Gioan Tẩy Giả đă làm, nhưng để đón nhận Tin Mừng Nước Thiên Chúa và ơn tha thứ (Mc 1,15). Chúa Giêsu đi bước trước đến với những người tội lỗi, v́ Người đến không phải v́ những người mạnh khoẻ, nhưng v́ những bệnh nhân. Người tha thứ cho người bại liệt (Mc 2,5), cho người nữ tội lỗi (Lc 7,48), cho người ngoại t́nh (Ga 8,11), cho Giakêu (Lc 19,9-10) và trên thập giá đă tha thứ cho những kẻ sát nhân (Lc 23,34). Người tỏ bày ḷng thương xót của Thiên Chúa qua những dụ ngôn con chiên lạc và người con hoang đàng (Lc 15).

Tuy nhiên, Chúa Giêsu cũng
loan báo sự kết án và sự trừng phạt những kẻ vô tín khướt từ đón nhận lời thương xót của Người (Mt 11,20-24; Mt 13,42) và Người khẳng định rằng tội chống lại Chúa Thánh Thần sẽ không được tha (Mc 3,28-30). Tội ấy không được tha v́ nó là việc từ chối ơn tha thứ mà Thiên Chúa ban cho con người bởi Chúa Thánh Thần.
Chính Chúa Giêsu, trong bữa Tiệc Ly, đă khẳng định tính trầm trọng thảm khốc của tội: máu của Người phải đổ ra cho các tội nhân (Mt 26,28).

II.2. Theo thánh Phaolô, cốt yếu của tội là ǵ?

Trong Kinh Thánh, từ “tội” mang nhiều ư nghĩa và chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết, tội là hành v́ có thể qui trách nhiệm cho con người: đó là sự thiếu t́nh yêu đối với Thiên Chúa và sự bất tuân các giới luật của Ngài.

Tuy nhiên, tội không chỉ là một hành vi, như đôi khi người ta nghĩ thế; tội cũng là một trạng thái đang chịu. Thánh Phaolô chỉ cho thấy trong chúng ta có một khuynh hướng xấu lôi kéo chúng ta làm điều ác. Thánh nhân gọi nó là “sự tội” ở số ít, chứ không phải là “những thứ tội”, những hành vi tội lỗi. Nếu không có Đức Kitô, con người chỉ là nô lệ của tội (Rm 6,17-20): “điều tôi ghét, th́ tôi lại cứ làm’ (Rm 7,15-20).

Sự hướng chiều về sự ác làm cho tự do bị lệch lạc nêu trên được truyền thống gọi là “concupiscentia”. Đó là một khía cạnh của “tội nguyên tổ” ở trong chúng ta.

                                                   III. TÍNH TRẦM TRỌNG CỦA TỘI

III.1. Đâu là sự khác biệt giữa tội trọng và tội nhẹ?


Mọi tội đều xúc phạm đến Thiên Chúa, nhưng chúng không có cùng mức độ trầm trọng như nhau. Có thứ tội trọng và thứ tội nhẹ.

a. Tội trọng

Có những tội phá vỡ mối giao ước với Thiên Chúa và tước khỏi linh hồn sự sống thần linh. Đó là những tội xúc phạm trầm trọng đến tha nhân hoặc huỷ diệt phẩm giá con Thiên Chúa của chúng ta, và được phạm với một ư thức rơ ràng về tính trầm trọng của chúng, cũng như một sự tự do đầy đủ. Như vậy, tất cả những tội có đối tượng là một chất liệu nặng, được phạm với ư thức đầy đủ và tự ư ưng thuận, đều là tội trọng.


Tội trọng = chất liệu nặng (đối tượng) + ư thức đầy đủ (lư trí) + tự ư ưng thuận (ư chí)

Tội trọng c̣n gọi là tội làm cho chết bởi v́ chúng làm cho mối tương quan với Thiên Chúa bị huỷ diệt (1 Ga 5,16-17). Khi xưng tội, chỉ buộc xưng thú những tội trọng.

Cũng đừng lẫn lộn giữa tội trọng và các mối tội đầu, như đôi khi người ta nghĩ. Những tội được gọi là các mối tội đầu bởi v́ từ chúng dễ làm nẩy sinh những tội khác. Các mối tội đầu không phải là những tội trọng nhất, nhưng chúng là nguồn gốc của mọi tội khác.

b. Tội nhẹ

Cũng có những tội không phá hỏng định hướng của đời sống chúng ta nơi Thiên Chúa. Dù không phá vỡ mối hiệp thong với Thiên Chúa, chúng cũng là một sự thiếu vắng t́nh yêu. Chúng ta gọi chúng là tội nhẹ.

Những tội có đối tượng là chất liệu nhẹ, hoặc đối tượng có thể là chất liệu nặng nhưng được phạm khi không có ư thức đầy đủ hoặc không ưng thuận hoàn toàn, được gọi là tội nhẹ. Nhiều tội nhẹ đáng kể gộp lại cũng không làm cho những tội nhẹ này thành tội trọng, bởi v́ ở đây không phải là vấn đề số lượng, nhưng là bản chất khác biệt của tội.

III.2. Nguồn gốc của sự phân biệt tội trọng và tội nhẹ

Sự phân biệt giữa tội trọng và tội nhẹ không thấy rơ ràng trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, thánh Gioan nói về thứ tội dẫn đến sự chết và đối lập với thứ tội không dẫn đến sự chết (1 Ga 5,16-17). Giáo hội sơ khai đă phân biệt ba tội đặc biệt trầm trọng là: ngoại t́nh, bội giáo và giết người.

Từ thời Trung Cổ, người ta phân biệt tội trọng và tội nhẹ. Sự phân biệt tội trọng và tội nhẹ được nhận vào trong truyền thống Giáo hội với thần học của thánh Augustinô.

Lm. Phaolô Nguyễn Thành Sang

 

Bài đọc thêm

MẶC CẢM TỘI LỖI
Ư NGHĨA CỦA TỘI
Ư NGHĨA CỦA ƠN THA THỨ

Xin ơn tha thứ, một tiến tŕnh có vẻ đơn giản bề ngoài, nhất là khi nó được thực hiện trong sự thành thực với Thiên Chúa ở ngoài bí tích thống hối. Chỉ cần đặt ḿnh trước sự hiện diện của Đấng Tạo Hoá, xưng thú với Ngài những lầm lỗi của ḿnh và một lần nữa tỏ ra sẵn sàng trước những lời gọi của Ngài. Thế mà sự đơn giản bề ngoài của tiến tŕnh này lại có nguy cơ đánh lừa rất lớn. Thực tế, tiến tŕnh xin Thiên Chúa thứ tha là một tiến tŕnh không chỉ rất khó khăn - nhiều người đă kinh nghiệm được sự khó khăn này - nhưng cũng luôn phức tạp và nhất là đầy những nhập nhằng. Ở đây tôi muốn làm cho dễ cảm nhận những cơ may và những nguy cơ cố hữu trong việc t́m kiếm ơn tha thứ. Điều này có thể sẽ giúp cho mỗi người dễ xác định mối tương quan tồn tại giữa ư nghĩa của tội và ư nghĩa của ơn tha thứ.

CẢM THẤY CÓ LỖI: MỘT THÁI ĐỘ THƯỜNG NHẬP NHẰNG

Chúng ta bắt đầu suy tư này bằng một điều hiển nhiên: để có ước muốn cầu xin ơn tha thứ, trước tiên phải cảm thấy ḿnh có lỗi. Chính việc cảm nhận ḿnh có lỗi lại khởi sự phát sinh những nhập nhằng của tiến tŕnh hoà giải. Thật vậy, những nhà nhân học đă dạy chúng ta biết thế nào mặc cảm tội lỗi là một trong những nơi đặc thù thực hiện ư muốn toàn năng có trong mọi người, và làm sáng tỏ câu chuyện về tội nguyên tổ ở chương 3, sách Sáng Thế. Nghĩa là việc nhận biết lỗi lầm, dưới vẻ bề ngoài khiêm hạ, lại thường là một dịp củng cố sự quyến luyến kém lành mạnh với một h́nh ảnh nào đó về chính ḿnh, một sự quyến luyến mà những nhà tâm lư học gọi là “si mê chính ḿnh”. Chúng ta thử t́m hiểu bằng cách nhắc lại cách ngắn gọn mặc cảm tội lỗi là ǵ.

Mặc cảm tội lỗi là ǵ?

Bản chất của mặc cảm tội lỗi được diễn tả rơ ràng bởi từ “cắn rứt”. Như từ này gợi lên, mặc cảm tội lỗi là một sự “cắn rứt” của tâm lư bởi chính nó. Nó diễn ra như thể con người tự tấn công ḿnh bởi v́ nó đă thất vọng về chính ḿnh sau một thái độ nào đó. Mặc cảm tội lỗi tạo ấn tượng như đang đứng trước một toà án nội tâm đ̣i buộc phải đền bù lại, và một cách nào đó phải tạ lỗi. Tội tâm lư cũng đồng thời khởi động chiều kích tấn công của chủ thể (chủ thể tự cắn rứt) và chiều kích t́nh cảm (chủ thể không thích h́nh ảnh của chính ḿnh sau khi đă phạm lỗi). V́ thế người ta dễ dàng nhận ra rằng, bị đụng chạm như thế trong hai chiều kích vừa nêu giữa những chiều kích hợp thành, người có lỗi sẽ trở về với những chiến thuật tâm lư tinh tế để tự trấn an và không phải bẻ mặt. Giờ đây, chúng ta khảo sát một vài chiến thuật này, mà suy cho cùng là rất “si mê chính ḿnh”.

Chiến thuật cự tuyệt lỗi phạm

Với nhiều người, nếu không muốn nói là với hết mọi người, nh́n nhận rằng ḿnh đă phạm tội là thời khắc rất khó chịu. Cần ghi nhận rằng người ta thích làm tha hoá người khác và chính ḿnh hơn là chọn lựa con đường tự do. Việc ư thức về lỗi phạm luôn dẫn đến một “sự tổn thương nào đó về ḷng si mê chính ḿnh”: “Tôi không tốt cũng chẳng tự do như tôi tưởng!”. Chiến thuật tự nhiên của ước muốn toàn năng v́ thế sẽ cố chữa lành vết thương này bằng việc cự tuyệt sự tồn tại của chính lỗi phạm: “Không, tôi không có phạm lỗi”. Hoặc: “Vâng, tôi đă phạm lỗi, nhưng nó mạnh hơn tôi, v́ thế tôi không có tội”. Việc lắng nghe kinh nghiệm riêng về con người có lỗi của chúng ta và việc đọc lại kinh nghiệm của những người khác giúp chúng ta khám phá ra nhiều cách thức dẫn đến việc cự tuyệt sự tồn tại của tội. Chúng ta nhấn mạnh vài cách thức:

- sự hợp lư hoá: người ta thiết lập một lư luận ít nhiều lọc lừa để biện minh cho thái độ vô luân. Thí dụ: “Tôi lừa dối vợ tôi, nhưng là để sau đó gặp lại cô ta cách nồng nhiệt hơn và cũng để giúp cho người bạn t́nh của tôi thoát khỏi ức chế t́nh dục”;

- sự chuyển dịch: chúng ta chuyển tính tội lỗi vào những lănh vực của đời sống vốn không đụng chạm đến chúng ta cách trực tiếp, để tránh nh́n vào những lănh vực nơi đó chúng ta có khả năng [phạm lỗi] thực sự và trong đó chúng ta để cho lỗi phạm xảy ra. Thí dụ: một chủng sinh rất chểnh mảng trong việc nghiên cứu thần học và khi xưng tội lại thú nhận đă để cho những trẻ em của thế giới thứ ba phải chết đói;

- sự phổ thông hoá: đó là lư lẽ cổ điển: “Mọi người đều làm thế, v́ vậy có ǵ đâu mà xấu”. Thí dụ: việc gian lận thuế; việc gian lận thi cử; việc vi phạm luật giao thông.

- sự bù trừ: chúng ta tự làm trạng sư cho những yếu đuối của ḿnh khi cho rằng những yếu đuối này cần để thúc đẩy những đức tính tốt. Thí dụ: “Thật vậy, tôi rất cứng rắn trong các tương quan với những công nhân của tôi, hoặc những giáo dân của tôi, nhưng điều đó giúp cho xí nghiệp của tôi hoặc giáo xứ của tôi vận hành tốt”;

- sự trung lập t́nh cảm: chúng ta sử dụng một lối diễn tả trung lập hay “luân lư” để dán nhăn cho một thái độ vô luân. Thí dụ: vài “b́nh rượu” để chiếm lĩnh thị trường sẽ được gọi là “đạo đức trong giao dịch”. Hoặc là sự chểnh mảng việc thực hành tôn giáo sẽ được gọi là “tôi đang t́m kiếm”.

- sự phóng chiếu: chúng ta chuyển sang cho người khác lỗi lầm của chính chúng ta.

- sự rèn luyện mang tính đối phó: chúng ta tập trung mọi nỗ lực luân lư chống lại một thiếu sót làm phiền ḷng nhiều người, và bổng nhiên, chúng ta không nh́n nhận những lỗi lầm đôi khi rất trầm trọng mà chúng ta phạm phải ở nơi khác. Thí dụ: một người đang ŕnh rập những lỗi phạm của ḿnh trong lănh vực giới tính và trở nên mù quáng đối với tính tội lỗi trong lănh vực bổn phận nghề nghiệp của ḿnh;

- sự hoăn lại việc thực hành lấy cớ là chờ đợi một thời điểm rơ ràng hơn: “Tôi đă chẳng muốn cho tiền trong cuộc vận động chóng nghèo đói, bởi v́ tôi biết rất rơ rằng điều đó rất mập mờ và một phần tiền thu được sẽ rơi vào tay của những kẻ độc tài”;

- sự xin xỏ đồi bại: chúng ta sắp đặt để gặp một linh mục hay một nhân vật mẫu mực và thực ra là để nấp bóng quyền hành này mà xin xỏ những việc phi nhân;

Những “chiêu thức” xoá mặc cảm tội lỗi này tỏ rơ rằng, người ta có thể đi từ sự phản kháng nơi bản thân mà nhận biết ḿnh là tội nhân. Như Paul Ricoeur đă nói rất chính xác, mặc cảm tội lỗi thường là sự tự che đậy; điều mà nhiều đoạn Kinh Thánh đă không ngừng nhắc nhở chúng ta: “Quả thật, ai làm điều ác th́ ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách” (Ga 3,20). Hơn nữa, chẳng phải những lời của Chúa Giêsu được minh hoạ bằng bạo lực gây ra cho các tiên tri thời Cựu Ước và bằng việc kết án tử chính Đức Kitô, Đấng là Ánh Sáng đó sao? V́ thế chúng ta đoán ra rằng, khi một kitô hữu bắt đầu tiến lại gần Thiên Chúa để được tha thứ, câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là: “Phải chăng tôi nhận ra tầm mức khá chính xác về lỗi lầm của tôi hoặc phải chăng tôi phục tùng một “chiêu thức” xoá mặc cảm tội lỗi v́ ḷng si mê chính ḿnh?”. Trả lời cho câu hỏi này là quyết định đối với phẩm chất của tiến tŕnh thống hối, và sau này chúng ta sẽ thấy làm thế nào câu trả lời có thể trở nên dễ dàng khi chúng ta đă hiểu rơ khái niệm thần học về tội. Nhưng trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng sự nh́n nhận tội lỗi c̣n có thể bị rối loạn bởi một chiến thuật tâm lư hoàn toàn ngược lại với chiến thuật cự tuyệt lỗi phạm: đó là chiến thuật thổi phồng mặc cảm tội lỗi.

Chiến thuật thổi phồng mặc cảm tội lỗi.

Chúng ta vừa thấy ở trên, đối với nhiều người, việc ư thức về lỗi phạm đă dẫn đến một “tổn thương” về h́nh ảnh của chính ḿnh. Nhưng lạ thay, với một số người, việc ǵn giữ h́nh ảnh tốt đẹp về ḿnh hay về ḷng “si mê chính ḿnh” sẽ được thực hiện một cách rất tinh vi khi tự cho ḿnh là lỗi phạm quá đáng so với lỗi phạm thực mà họ đă phạm trong thực tế. Chúng ta thử t́m hiểu tại sao.

Trước hết, tự nh́n nhận ḿnh là tội nhân cũng có nghĩa là nh́n nhận ḿnh có tự do. Thực vậy, theo thần học cổ điển nhất, chỉ có tội khi với ư thức và tự do khước từ đáp trả lại t́nh yêu của Thiên Chúa đối với con người. Thế nên khi một người phải chịu khuất phục một thực tại mạnh hơn ḿnh, th́ cho dẫu v́ thực tại này mà nó thực hiện một hành vi khách quan phi nhân tính, nó không phải tuyên bố rằng ḿnh đă phạm tội. Chính ở điểm này mà mối nguy cơ về chiến thuật si mê chính ḿnh len lỏi vào. V́ cuối cùng, thật nhục nhă đối với kẻ nh́n nhận rằng ḿnh đă vi phạm điều ǵ đó mà ḿnh “chẳng muốn”, đặc biệt khi điều đó đụng chạm đến hai lănh vực đặc thù: xung năng dục t́nh và xung năng gây hấn! Thí dụ, nhiều người rất nhục nhă thừa nhận rằng, cho dù đă hết sức cố gắng, họ cũng không thể nào làm chủ được bản năng giới tính của ḿnh. Trước một sự nhục nhă như thế, ước muốn toàn năng sẽ có khuynh hướng làm cho họ nói rằng: “Không thể tưởng việc tôi phải chịu khuất phục bởi các xung năng của ḿnh, nói cách khác, tôi không phải là ông chủ của chính ḿnh trong mọi sự; thế nên tôi đă phạm tội!”. V́ vậy người ta đi đến chỗ nh́n nhận là tội nhân trong một lănh vực nào đó, trong khi thực tế họ bị chi phối bởi những giới hạn. V́ thế việc xin ơn tha thứ trong sự nh́n nhận tội lỗi giả tạo trở nên dịp để họ phủ nhận những giới hạn thụ tạo của ḿnh. Phương kế cậy dựa vào Thiên Chúa với bề ngoài có vẻ khiêm hạ, thực tế tỏ rỏ là một chối từ giới hạn. Một điều rất trầm trọng trên b́nh diện thần học cũng như tâm lư. V́ thế chúng ta thấy rằng, một tiến tŕnh sám hối đích thực đ̣i hỏi con người phải dám làm một cuộc thẩm định lại những xác quyết hay gần như xác quyết tâm lư và xă hội của ḿnh, hoặc phải dám đối diện với những điều thuộc loại loạn thần kinh của chủ thể.

Như thế, việc xin ơn tha thứ có thể là một chối từ giới hạn. Nhưng nó cũng có thể là một cách củng cố việc qui chiếu về chính ḿnh. Để thẩm định điều đó, chỉ cần chú ư đến thái độ của một vài hối nhân hoặc một vài người trong các cuộc họp nhóm để tổng kết và kiểm điểm đời sống. V́ vậy chúng ta nhận ra rằng, tự đặt ḿnh vào trọng tâm của cuộc tṛ chuyện hay của nhóm không hiệu quả bằng việc tự cho ḿnh đích thực là tội nhân hay phạm tội nặng nề làm trắc trở hoạt động của nhóm kiểm điểm đời sống! Kẻ khiêm hạ thái quá thường t́m kiếm điều ǵ? Muốn được người khác hoặc cả nhóm nói rằng: “Bạn thật đáng thương, bạn là người tốt”. Hơn nữa, chỉ cần một chút chú ư đến bản văn về người con hoang đàng trong Tin Mừng Luca chương 15 sẽ thấy rằng thái độ của người con thứ minh hoạ rơ cho chiến thuật này. Bằng cách nói quá về t́nh trạng tội lỗi của ḿnh: “Con không đáng được gọi là con cha nữa”, người con thứ đă thành công trong việc đưa ḿnh vào trung tâm của gia đ́nh đến nỗi người con cả cảm thấy bị cho chầu ŕa! Không buộc phải đọc dụ ngôn cách này, tôi đồng ư thế, nhưng cách đọc này làm phải suy nghĩ, thật sự có nhiều lời cầu xin tha thứ mà chủ thể tự hạ ḿnh, nhưng lại để lộ ra việc t́m kiếm một sự đảm bảo cho ḷng si mê chính ḿnh cách thái quá không c̣n phù hợp nh́n từ góc độ của Tin Mừng!

Chúng ta c̣n có thể vén mở một vài thái độ không lành mạnh khác diễn tả việc thổi phồng t́nh trạng tội lỗi của ḿnh khi thú tội với Thiên Chúa và c̣n hơn thế nữa trong khi thú tội với một linh mục. Thí dụ, chúng ta có thể nhớ rằng tự cho ḿnh là tội nhân trầm trọng đôi khi là việc t́m thoả măn ước muốn thích cảm giác bị trừng phạt. Từ đó dẫn tội nhân tới việc khó có thể đón nhận những lời nói về ḷng thương xót của Thiên Chúa. Cũng vậy, chúng ta có thể nhấn mạnh rằng thú nhận những việc trầm trọng với một linh mục có thể là một cách ngụy trang để móc nối vị linh mục này hoặc để trao cho vị này một “quà tặng” để mong được “quà tặng” trở lại, như việc thú nhận về chính bản thân ḿnh chẳng hạn. Nhưng cả hai thái độ, một đàng không chấp nhận những giới hạn của ư chí và đàng khác củng cố sự tập trung về chính ḿnh, đủ làm nghi ngờ rằng, rơ ràng không dễ ǵ tự nhận ḿnh là tội nhân cách thích đáng để nhờ đó sống cách thích hợp lời cầu xin ơn tha thứ. V́ thế giờ đây chúng ta t́m cách nhận biết làm thế nào một thần học lành mạnh có thể pḥng vệ phần nào cho tâm lư khỏi phải lạm dụng tiến tŕnh hoà giải.

NH̀N NHẬN TỘI LỖI: MỘT SỰ NH̀N NHẬN NGƯỜI KHÁC

Từ chối hay thổi phồng tính trầm trọng của lỗi phạm, hai chiến thuật mà người ta dùng để cố gắng ǵn giữ ḷng si mê chính ḿnh khi vi phạm luật luân lư hay không vâng lời Thiên Chúa. Hai chiến thuật này rơ ràng là từ chối ư nghĩa đích thực của tội. Chúng ta giải thích điều đó.

Như chúng ta đă hiểu khi đọc những trang trên, mặc cảm tội lỗi là một thực tại nội tâm của tâm lư con người. Để đơn giản hơn, chúng ta có thể nói rằng mặc cảm tội lỗi chỉ diễn ra giữa tôi và tôi. Người khác, nghĩa là tha nhân và Thiên Chúa, chỉ được xem xét dưới những h́nh thái đă bị nội tâm hoá. Những hệ quả khách quan trong những cách cư xử của tôi đối với họ thật sự không được đề cao đúng mức. Thế mà khái niệm kitô giáo về tội được tiến hành trên chính việc xem xét đến bản chất của Đấng Khác. Nh́n nhận tội lỗi chính là thử phá bỏ việc t́m kiếm thái quá chính ḿnh luôn xảy ra ít nhiều trong mặc cảm tội lỗi. Tự thú nhận ḿnh là tội nhân chính là làm cho sự hiện diện của Đấng Khác trở nên rơ ràng trong những điều hiển nhiên của nội tâm. V́ phát hiện tội lỗi luôn là phát hiện ra rằng cách cư xử tội lỗi không chỉ đă xúc phạm đến người khác là tha nhân, nhưng nó cũng là sự khước từ Đấng Tạo Hoá và Cứu Độ là chính Thiên Chúa. Tự nh́n nhận là “người có lỗi” thường là tự nh́n ngắm ḿnh trong sự mất giá, trong khi tự nh́n nhận là “tội nhân” th́ đă tự từ bỏ việc qui chiếu về chính ḿnh để nh́n nhận chủ đích lời mời gọi của Thiên Chúa mà ḿnh đă từng nhạo báng. Như thế, ư nghĩa đích thực của tội lỗi góp phần loại bỏ sự thái quá của ḷng si mê chính ḿnh bằng cách giúp con người thẩm định cách chân thật hơn tầm vóc lỗi phạm của ḿnh.

Khi người có lỗi có khuynh hướng giảm nhẹ tính trầm trọng nơi cách cư xử tội lỗi của ḿnh th́ việc tiếp xúc thường xuyên với Lời Chúa sẽ đặt họ lại trước một vài xác tín nhắc nhở họ cách mạnh mẻ bề sâu của sự tha hoá mà tội lỗi gây nên. Trước hết gương mặt của Chúa Giêsu trên thập giá, bị biến dạng v́ sự đồi bại của con người, buộc họ đừng quên rằng mọi tội lỗi đều làm hỏng gương mặt của tha nhân, làm méo mó các tương quan nhân bản, dẫn đến chối từ sự thật, t́nh yêu, công bằng, và rốt cuộc lan truyền một lối lư lẻ ức hiếp người vô tội. Kết đến, việc Chúa Giêsu phục sinh chỉ cho thấy những vết thương nơi thân thể vinh quang của Người khiến cho tội nhân không c̣n che giấu thực tại này: không chỉ tội của nó có những hậu quả không thể cứu văn mà chính Thiên Chúa cũng không thể xoá bỏ, nhưng lỗi phạm chống lại con người cách nào đó cũng là một xúc phạm đến chính Đấng Tạo Hoá (Mt 25, 31tt). Cuối cùng, số lớn những bản văn Thánh Kinh nhắc nhở rằng “chỉ ḿnh Thiên Chúa là Đấng cứu độ” hoặc chỉ có Đức Kitô là Đấng cứu chuộc; những bản văn này đ̣i buộc người có tội phải ư thức rơ ràng về sức mạnh gây tê liệt của tội lỗi, xui khiến họ “làm điều xấu mà họ không muốn làm và ngăn cản họ làm điều thiện mà họ muốn làm” (x. Rm 7). V́ thế, tự đặt ḿnh trước chiều sâu của t́nh yêu Thiên Chúa được mạc khải nơi Con của Ngài là Chúa Giêsu, cũng chính là tự đặt ḿnh trước tầm vóc và tính trầm trọng của tội lỗi nơi con người. Nhưng nhiều người có thể bắt bẻ rằng phải chăng ở đây lại có một nguy cơ nuôi dưỡng chiến thuật si mê chính ḿnh bằng việc thổi pḥng tính tội lỗi khi nguyền rủa thái quá tội nhân? Không phải thế, nhưng với điều kiện phải nhớ lại rằng người kitô hữu không tin vào tội lỗi, mà tin vào “ơn tha thứ tội lỗi”. Nói cách khác, việc ư thức về sự chối từ t́nh yêu Thiên Chúa chỉ có thể tránh khỏi cái bẩy thổi pḥng tính tội lỗi khi nó được đồng hành bởi ư nghĩa đích thực của ơn tha thứ.

Ư nghĩa ơn tha thứ của Thiên Chúa: điều kiện cho ư nghĩa đích thực của tội

Thật không dễ dàng nhận thức được ư nghĩa đích thực của ơn tha thứ. Có lẽ đơn giản chỉ v́ có rất hiếm những cơ hội để chúng ta phải thực sự tha thứ. Thật vậy, nghĩa cử tha thứ không được lẫn lộn với việc tạ lỗi, rất thường diễn ra, và rất thường lẫn lộn. Không nghi ngờ ǵ nữa, sự lẫn lộn này được nuôi dưỡng bởi những lối diễn tả như: “Thật không thể tha thứ!”. Thế mà thực ra, mọi tội đều có thể được tha thứ, trong khi không phải tội nào cũng có thể tạ lỗi được, bởi v́ ơn tha thứ là hồng ân tương lai được ban cho những ai không thể tạ lỗi, nghĩa là cho những ai đă cố ư làm điều xấu, nói cách khác là cho những ai đă phạm tội. Trong khi việc tạ lỗi ghi nhận những điều kiện tương hợp [bào chữa] cho người đă phạm lỗi (nó đă không để ư hoặc điều đó mạnh hơn nó, khống chế nó), ơn tha thứ cách nào đó “buộc tội”: ơn tha thứ nhận biết rằng người khác rơ ràng có tự do để chọn không thực hiện hành vi xúc phạm. Ơn tha thứ v́ thế không phải là bố thí bởi v́ nó không làm giảm thiểu sự tự do của người khác khi nói rằng : “Đừng oán giận điều đó; con người vốn lỗi lầm!”. Trái lại, ơn tha thứ ghi nhận con người có khả năng đánh mất chính ḿnh và từ chối t́nh yêu. Rốt cuộc, ơn tha thứ nâng cao phẩm giá v́ nó khẳng định: con người tội lỗi không phải là một con rối hoàn toàn chịu khuất phục các xung năng hay những hoang tưởng của ḿnh. Ơn tha thứ không chấp nhận sự khoan dung giả tạo v́ nó tin vào phẩm giá của tự do con người. Nhưng như thế ơn tha thứ lại chẳng có một khía cạnh đáng sợ sao nếu nó “kết án” cách sáng suốt ? Quả vậy, tôi là ai mà lại kết án anh em ḿnh? (x. Rm 14,4). Chính Đức Kitô trên thập giá, bằng việc cầu xin Chúa Cha tha tha thứ cho những kẻ sát hại Người, đă chẳng t́m cách làm giảm nhẹ sự kết án bởi lời cầu xin ơn tha thứ khi thêm vào một lời tạ lỗi: “Chúng không biết việc chúng làm!”. Đúng vậy! Chính v́ thế ơn tha thứ chỉ có thể được ban tặng bởi Thiên Chúa, Đấng duy nhất có thể biết được phải chăng con người đă thật sự phạm tội, hoặc bởi người bị xúc phạm, khi kẻ xúc phạm can đảm nh́n nhận lỗi phạm của ḿnh.

Nhưng với việc nâng cao phẩm giá khi nhận biết lỗi phạm, như thế ơn tha thứ được ban bằng ǵ? Chắc chắn không phải bằng việc quên đi quá khứ. Trước hết bởi v́ có những sự xúc phạm không thể xoá nhoà trong kư ức và cũng bởi v́ có những lỗi phạm trầm trọng đến nỗi đôi lúc thật cần thiết nhắc nhớ lại chúng để tránh khỏi những tái phạm (Chúng ta thử nghĩ đến nạn diệt chủng những người Do Thái bởi Đức Quốc xă chẳng hạn). Không, ơn tha thứ không là sự quên lăng. Nó là ân huệ tương lai nhưng không cho ai nhận biết tội lỗi của ḿnh. Ân huệ tương lai bởi v́ người tha thứ, trên hết khi đó là Thiên Chúa, là người nói với kẻ phạm tội: “Tôi không nhốt kín anh trong lỗi phạm của anh, tôi nghĩ là anh có khả năng thoát khỏi sự tha hoá, hăy tiến bước, tôi tin anh”. V́ thế ơn tha thứ nhận được là một thực tại gây kinh ngạc về ḷng tin tưởng của người khác dành cho tôi ngay chính lúc mà họ hoàn toàn có lư do để mất ḷng tin vào tôi. V́ thế ơn tha thứ nhận được phá vỡ ư muốn tự say mê ḿnh, bởi v́ tính hiển nhiên của khả năng có một tương lai mới mẻ không phát sinh từ người mắc lỗi, nhưng từ Thiên Chúa, Đấng bị xúc phạm nhưng thích tỏ rơ sức mạnh của Ngài trong sự yếu đuối. Được tha thứ chính là có được một khám phá hoàn toàn đảo lộn rằng ngay chính lúc ư thức về tội làm hối nhân không c̣n tin tưởng vào chính ḿnh, th́ Thiên Chúa lại luôn tin tưởng vào một tương lai mới mẻ của tội nhân.

Hơn nữa, ân huệ tương lai này là nhưng không! Điều này gia cố lại vết rạn nứt của ḷng si mê chính ḿnh gia tăng bởi mặc cảm tội lỗi. Người tự nhận biết ḿnh là tội nhân rất thích nói ít nhất có thể về những hành vi tốt đẹp đáng để được ơn tha thứ, và như thế xoá bỏ được nỗi nhục nhă đă không giữ lư tưởng mà họ từng ngưỡng vọng! V́ thế Thiên Chúa chẳng đ̣i buộc điều kiện ǵ để tha thứ, ngoại trừ việc con người thật ḷng muốn hướng về Ngài mà không hổ ngươi, và chấp nhận cố gắng sống phù hợp với ân huệ tương lai mà Ngài đề nghị với họ. Rơ ràng, ơn tha thứ của Thiên Chúa không ba hoa. Ơn tha thứ ấy không nói ồn ào về những xem xét to tát đ̣i buộc hối nhân phải luôn hạ ḿnh hơn nữa, như một vài bậc cha mẹ thường làm như thế khi không ngừng lặp lại với con cái những lỗi phạm của chúng rằng: “Sau bao nhiêu điều mà cha mẹ đă làm cho con...!”. Thiên Chúa hài ḷng khi nói với tội nhân: “Đừng phạm tội nữa. Và nếu con lo sợ về bản thân ḿnh th́ đừng sợ nữa; Sức mạnh của Ta sẽ đồng hành cùng con để con có thể t́m lại hương vị và khả năng yêu thương”. Kinh nghiệm về ơn tha thứ chính là kinh nghiệm về sự kín đáo của một Thiên Chúa chẳng bao giờ doạ nạt t́nh cảm. Được tha thứ rốt cuộc là kinh nghiệm về sự khiêm hạ của Thiên Chúa. V́ thế, được tha thứ chính là được mời gọi phá đổ sự khinh bỉ chính ḿnh có thể xảy đến, để t́m thấy sự khiêm hạ hạnh phúc của kẻ t́m lại được lộ tŕnh tốt khi cùng bước đi với Đấng Cứu Độ của ḿnh.

Như thế chúng ta tránh xa được những cái bẩy tự chiêm ngưỡng ḿnh của mặc cảm tội lỗi! Trong khi “kẻ có lỗi” t́m cách thoái thác tội của ḿnh, th́ “tội nhân” dám mở mắt nh́n ra những thông đồng của ḿnh với sự tha hoá, nh́n ra những hậu quả phi lư của lỗi phạm qui tội cho Người Vô Tội, Đấng đă đến để cứu chữa tội lỗi thế gian. Trong khi “kẻ có lỗi” tự tách biệt để chiêm ngắm ḿnh nhiều hơn trong nỗi thất vọng về chính ḿnh, th́ “tội nhân”, khi nh́n nhận ḿnh trước Thiên Chúa, lại thoát khỏi sự cô lập để khám phá ra tin vui từ Đấng Cứu Độ, Đấng đă trao tặng cho ḿnh cách nhưng không tuyệt đối điều quư giá nhất trên trần gian: khả năng hy vọng, khả năng sinh lợi đến gấp trăm nhờ Thiên Chúa.

Xavier THÉVENOT