| |
VẤN ĐỀ NGỪA THAI VÀ HUẤN QUYỀN
I. Bối cảnh lịch sử
Sự hiểu biết tốt nhất về vấn đề sinh sản của con người bởi bác sĩ Ogino
(Nhật) và Knauss (Áo) ở đầu thế kỷ 20, rồi sự ra đời của thuốc ngừa thai
vào đầu những năm 50 của thế kỷ 20 đă làm sôi sục dư luận của các đôi vợ
chồng và các nhà luân lư. Những luận chứng rất nhiều và trái ngược đă
xuất hiện trên diễn đàn công cộng, và cả trong ḷng Giáo hội (1).
Công đồng Vaticanô II, dù xây dựng một thần học rất tích cực về đời sống
lứa đôi và bí tích Hôn phối, đă chẳng nói ǵ về tính hợp pháp của việc
sử dụng viên thuốc ngừa thai. Chính bản văn nổi tiếng của Gaudium et
spes số 51 với ghi chú số 14 tỏ cho biết làm sao cuộc thảo luận vẫn chưa
làm sáng tỏ và cuối cùng tại sao Đức Giáo hoàng đă giữ lại vấn đề này:
“Bởi lệnh của Đức Giáo hoàng, một vài vấn đề đ̣i hỏi những cuộc nghiên
cứu sâu rộng hơn đă được giao phó cho một Uỷ ban lo cho những vấn đề về
dân số, gia đ́nh và tỉ lệ sinh đẻ, để một khi vai tṛ của Uỷ ban này
hoàn tất, Đức Giáo hoàng có thể bày tỏ ư kiến. Như thế, giáo huấn của
Huấn quyền vẫn c̣n đó, công đồng không có ư đề nghị ngay tức khắc những
giải pháp cụ thể” (2).
Trong tiểu phẩm về kitô hữu và hôn nhân, được xuất bản năm 1966, Bernard
Häring điểm lại chủ đề này sau khi kết thúc công đồng, nơi Bernard
Häring đă tham dự với tư cách là chuyên viên. Bernard Häring không do dự
liệt kê những vấn đề mà các cặp vợ chồng kitô hữu gặp phải: xa nhau hiếm
khi gặp lại, nhịp sinh học không đều của người nữ, hiệu quả không chắc
chắn của giai đoạn cho con bú. Bernard Häring xác nhận rằng một số giám
mục và thần học gia, nếu họ đă kết án việc sử dụng tuỳ tiện viên thuốc
mà chất nền là dưỡng thai, th́ lại đánh giá rằng “những thủ đắc mới nhất
của y khoa và nhân học cho phép đặt câu hỏi: “Thánh Kinh, Truyền Thống,
Huấn Quyền và những kiến thức khoa học có tạo nên lư do đủ để tuyên bố
việc sử dụng viên thuốc là có tội, ngay cả ngoài giai đoạn cho con bú,
nếu việc sử dụng này nhằm cho phép diễn đạt tốt nhất t́nh yêu vợ chồng,
trong những khi mà những trách nhiệm của đôi vợ chồng đối với Thiên Chúa
và tha nhân không cho phép họ đảm nhận nguy cơ của một cuộc mang thai
mới?”. Một luận chứng khác bị Bernard Häring phủ nhận là luận chứng nêu
lên nguyên tắc luân lư muốn rằng “việc sửa lại những khiếm khuyết của tự
nhiên là hợp pháp”. Luận chứng về vấn đề ngừa thai này bị phủ nhận v́
thiếu tính phổ quát của nguyên tắc được đề cập và v́ nguy cơ không thể
tránh khỏi của thuyết ưu sinh được nối kết với nó. Hơn nữa, muốn sửa
chữa thiên nhiên được nhiều nhất có nghĩa là con người điều chỉnh chu
kỳ, chứ không phải làm tắt chu kỳ trong một khoảng thời gian xác định.
Chính trong bối cảnh này mà Đức Giáo hoàng Phaolô VI đă triệu tập một Uỷ
ban bao gồm các thần học gia, giáo dân và bác sĩ… Lịch sử của uỷ ban này
đă được biết rơ. Công việc soạn thảo của uỷ ban này đă tiến triển đều
đặn. Tài liệu cuối cùng của uỷ ban đă ủng hộ việc ngừa thai cách đúng
mức. Nhưng thông điệp đă chọn một thái độ thận trọng nhất như chúng ta
biết, đặc biệt gây sửng sờ cho những người giáo dân trong Uỷ ban.
II. Humanae vitae
Thông điệp Humanae vitae được ban hành ngày 25 tháng 7 năm 1968.
II.2. Giáo huấn của thông điệp
Giáo huấn của thông điệp khá đơn giản. Hai luận chứng nuôi dưỡng
giáo huấn về tính bất hợp pháp của những phương pháp ngừa thai nhân tạo
nhằm mục đích điều hoà sinh sản là: tôn trọng luật tự nhiên như nó được
khám phá trong lănh vực sinh học của người nữ và người nam; không được
tách rời việc phối hợp giới tính và sự sinh sản.
Chúng ta hăy đọc số 11 đến 14, là điểm trọng tâm của thông điệp.
Chúng ta thử tóm tắt những tiêu chuẩn giáo thuyết:
- Hôn nhân giả định khả năng dâng hiến cho nhau hoàn toàn và trọn vẹn
(số 8).
- T́nh phụ tử có trách nhiệm được đề cao (số 10)
- Con người lệ thuộc luật tự nhiên (số 11)
- Sinh học là một chỉ dẫn cho luân lư: người ta không thể tách rời việc
phối hợp với sự sinh sản (số 12)
- Một nhân học theo đó con người được hiểu là có khả năng làm chủ chính
ḿnh (số 21)
Cuối cùng là những nguy hại mà Huấn quyền nêu rơ:
- Hạ cấp luân lư tính, bất trung, mất sự kính trọng người nữ nếu họ trở
nên một dụng cụ vui thú ích kỷ (số 17)
- Con người có nguy cơ khước từ trách nhiệm của ḿnh (số 18).
II.3. Việc đón nhận thông điệp
Chúng ta biết việc ban hành thông điệp Humanae vitae đă tạo nên “một vụ
nổ” thực sự. Người ta nghĩ rằng Đức Giáo hoàng sẽ theo hướng của đa số,
nhưng ngài đă không làm như thế. Điều đó đặt ra vấn đề liên quan đến
việc đón nhận thông điệp, bởi v́ có rất nhiều người, kể cả một số thần
học gia, không chấp nhận giáo huấn của thông điệp, và có nhiều người
công giáo đă không tuân giữ những lời khuyên bảo của Đức Giáo hoàng.
Trong số những hành vi đón nhận mẫu mực nhất phải kể đến tài liệu của
HĐGM Pháp, một tài liệu được đọc và nghiên cứu rất nhiều.
Người ta có thể phán đoán giá trị, quyền bính của một bản văn theo thái
độ đón nhận chúng hay không? Câu hỏi này làm dấy lên nhiều vấn đề hơn là
giải quyết nó.
Những chế độ dân chủ có thói quen chọn quyết định theo đa số phiếu bầu.
Thế mà chúng ta biết rằng, “chân lư” không phải là đối tượng của việc bỏ
phiếu.
Sống trong thời đại khoa học, chúng ta quen với những chứng minh và
những kinh nghiệm có thể kiểm chứng. Thế mà đức tin, dù nảy sinh giữa
ḷng kinh nghiệm nhân loại, không phải là đối tượng của sự chứng minh.
Thực tế, “từ ngữ “đón nhận” không phải là một từ xă hội học, nhưng đặc
thù thần học. Nó bày tỏ việc tiếp nhận những chân lư liên quan đến đức
tin và các phong hoá. Việc tiếp nhận này được sinh ra bởi Chúa Thánh
Thần. Đón nhận những chân lư như thế bao hàm rằng cá nhân và cộng đoàn
giáo hội chấp nhận công việc đôi khi lâu dài và gian khổ để hiểu, thấm
nhuần, và thậm chí cả việc hoán cải. Công việc được làm giữa ḷng Giáo
hội (sentire cum Ecclesia) trong một bầu khí cầu nguyện, t́m ṭi trí
thức cách nghiêm túc và với một thái độ khiêm nhường. Phán đoán việc đón
nhận một tài liệu huấn quyền v́ thế đặc biệt khó khăn” (3) . Trích dẫn
câu dài của X. Thévenot cho thấy tại sao khái niệm “đón nhận” phải được
sử dụng cách thận trọng và có biện biệt.
II.4. Lưu ư mục vụ của HĐGM Pháp về thông điệp
Humanae vitae
Tài liệu này ra đời trong hoàn cảnh lịch sử tiếp nhận thông điệp Humanae
vitae. Đây cũng là cơ sở cho việc phát sinh một khái niệm thần học luân
lư mới mẻ được gọi là luật tiệm tiến. Chúng ta sẽ đề cập đến luật này ở
một bài khác.
Sau khi đă đặt thông điệp trong khung cảnh của công đồng Vaticanô II,
đặc biệt các số 49 đến 51 của Gaudium et spes, các giám mục Pháp nhắc
lại một số tiêu chuẩn và nhất là đề nghị một lộ tŕnh mục vụ là luật
tiệm tiến.
Ngừa thai tự thân không thể là một sự thiện (số 6).
Lời mời gọi giáo dục đức tự chủ vẫn c̣n giá trị (số 8).
Các đôi vợ chồng phải theo lương tâm ḿnh, nhưng lương tâm phải phù hợp
với lề luật của Thiên Chúa và phải luôn ngoan ngoăn với những giải thích
mà Huấn quyền đưa ra (số 8).
Chính thông điệp đă gợi ra một lộ tŕnh tiến lên. Con người chỉ tiến bộ
cách kiên nhẫn, bằng thất bại và bắt đầu lại, trên con đường nên thánh:
đó là cuộc chiến đấu mỗi ngày được hướng dẫn bởi niềm hy vọng (số 12).
Vẫn có những đôi vợ chồng kitô hữu nhận biết ḿnh có tội v́ đă không đáp
ứng được những đ̣i hỏi mà thông điệp khẳng định rơ ràng. Ước ǵ đức tin
và ḷng khiêm tốn giúp đỡ họ để khỏi phải chán năn. Ước ǵ họ hiểu được
rằng những khiếm khuyết của các đôi vợ chồng quảng đại trong đời sống cá
nhận và tông đồ cũng không trầm trọng bằng những lỗi phạm của các đôi vợ
chồng khinh thường giáo huấn này, và để cho ḿnh bị thống trị bởi tính
ích kỷ và việc t́m kiếm lạc thú. Ước ǵ họ không nên xa rời các bí tích,
trái lại phải siêng năng hơn (số 15).
Ngừa thai chẳng bao giờ có thể là một điều thiện. Nó luôn luôn là một
rối loạn, nhưng sự rối loạn này không luôn luôn có tội. Trong trường hợp
xung khắc bổn phận, khi người ta phải đứng trước một t́nh thế phải lựa
chọn bổn phận mà cho dù quyết định nào được đưa ra đi nữa, họ vẫn không
thể tránh được một sự xấu, sự khôn ngoan truyền thống dự liệu phải suy
xét trước mặt Thiên Chúa bổn phận nào trong các bổn phận là lớn nhất. Họ
không bao giờ có thể quên đi hay khinh thường bổn phận nào trong số
những bổn phận xung khắc. Họ phải giữ trái tim ḿnh luôn ngoan ngoăn
trước lời gọi của Thiên Chúa, lưu tâm đến mọi khả năng mới có thể đặt
lại vấn đề về chọn lựa của họ hoặc thái độ hiện tại của họ (số 16).
Các linh mục sẽ ghi nhớ những nguyên tắc luân lư căn bản và sẽ lưu tâm
đến những quy luật tăng trưởng bao quát toàn bộ đời sống kitô hữu, và
giả định bước chuyển tiếp bởi những cấp độ c̣n in dấu ấn của sự bất toàn
và tội lỗi. Chúng không ngừng thúc giục các tín hữu lắng nghe Chúa Thánh
Thần, Đấng mời gọi mỗi người không ngừng vươn tới sự thánh thiện (số
20).
III. Những tiến triển xung quanh giáo huấn của
Humanae vitae
Chúng ta biết giáo huấn về ngừa thai của Humanae vitae là dứt khoát và
không thể thay đổi, không phải đặt lại vấn đề. Nhưng thật lư thú khi ghi
nhận những luận chứng mới mẻ và tinh tế hơn để bảo vệ giáo huấn của Giáo
hội kể từ sau Humanae vitae.
III.1. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II
Hơn cả việc xem mối liên hệ nội tại giữa phối hợp và sinh sản mà đôi vợ
chồng phải tuân giữ căn cứ vào luật tự nhiên, Đức Giáo hoàng Gioan
Phaolô II mời gọi hướng cái nh́n đến sự hiệp thông ngôi vị mà đôi vợ
chồng đă cam kết dấn thân trong ngày thành hôn. Thực tế, điều này làm
thay đổi cái nh́n tập chú trên chất thể của hành vi để hướng đến chính
những ngôi vị.
“Chúng ta có thể nói rằng, trong trường hợp tách biệt nhân tạo hai ư
nghĩa này (phối hợp và sinh sản), th́ hành vi vợ chồng thực hiện một sự
kết hợp thân xác thật sự, nhưng sự kết hợp này không tương xứng với chân
lư nội tại và phẩm giá của sự hiệp thông ngôi vị: communio personarum.
Thật vậy, một sự hiệp thông ngôi vị như thế đ̣i buộc rằng ngôn ngữ của
thân xác phải được diễn tả trong sự hỗ tương, trong sự thật toàn vẹn về
ư nghĩa của ngôn ngữ này. Thiếu sự thật toàn vẹn này, người ta không thể
nói về sự thật trong việc tự chủ, cũng như sự thật trong việc dân hiến
cho nhau và trong sự tiếp nhận lẫn nhau từ phía ngôi vị. Một sự vi phạm
như thế trong trật tự nội tâm của việc hiệp thông vợ chồng, mà nguồn gốc
cắm rễ sâu trong trật tự của chính ngôi vị, gây ra sự xấu cốt yếu của
hành vi ngừa thai” (4).
Như thế, điều thay đổi, không phải là quy luật, nhưng là cách thức tŕnh
bày quy luật này. Chẳng nghi ngờ ǵ nữa, cách thứ này rơ ràng là chính
xác hơn và dễ đón nhận hơn so với cách thức chỉ dựa trên luật tự nhiên,
rất khó hiểu đối với con người thời nay. Bởi đó, ĐGH. Gioan Phaolô II
dẫn các đôi vợ chồng trở về với câu hỏi căn bản: trong việc kết hợp thân
xác mà các đôi vợ chồng thực hiện rất chính đáng, làm thể nào để sống sự
kết hợp thật sự giữa hai ngôi vị, trong sự kính trọng tính toàn vẹn
chính đáng của mỗi ngôi vị?
III.2. VADE MECUM
Cẩm nang hướng dẫn các vị giải tội về một số vấn đề
luân lư liên quan đến đời sống hôn nhân
“Cẩm nang hướng dẫn các vị giải tội về một số vấn đề luân lư liên quan
đến đời sống hôn nhân”, được công bố năm 1997 bởi Hội Đồng Giáo Hoàng Về
Gia Đ́nh, rất bổ ích và bày tỏ nhiều giải thích rơ ràng. Chúng ta tóm
lượt và từng bước theo diễn tiến cấu trúc chặt chẽ của tài liệu, để nhận
ra những ư tưởng cốt yếu. Sau đó, chúng ta dừng lại ở vấn đề ngừa thai.
a. Dàn bài:
Trong lời giới thiệu, chúng ta thấy lư do ra đời của tài liệu này là “sự
nhạy bén về mục vụ của Đức Thánh Cha” để muốn cung cấp “những định hướng
rơ ràng và chắc chắn mà các thừa tác viên của Bí tích Hoà giải luôn có
thể quy chiếu trong khi đối thoại với các hối nhân”.
PHẦN DẪN NHẬP
1. Mục đích của tài liệu
- Tái khẳng định “ư định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đ́nh”: hôn
nhân là con đường nên thánh.
- Khẳng định trong hành tŕnh nên thánh của đời hôn nhân, cần phải có ân
sủng của Thiên Chúa đỡ nâng, đặc biệt qua Bí tích Hoà giải như “một sự
trợ giúp rơ ràng để thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa trong cuộc sống
của họ”.
- Cung cấp cho các vị giải tội và những hối nhân đă có gia đ́nh những
điểm quy chiếu, nhằm “lợi ích tối đa từ việc đi xưng tội và sống ơn gọi
làm cha mẹ có trách nhiệm hoà hợp với luật Chúa được Giáo hội giảng dạy
cách uy quyền”.
- Ngừa thai là một vấn đề lớn trong mục vụ hôn nhân, nên “cần phải nhắc
lại những điểm rơ ràng trong mục vụ cho phép đương đầu cách thích hợp
với những phương thức mới về ngừa thai và sự nghiêm trọng của toàn bộ
hiện tượng này”.
2. Đức khiết tịnh hôn nhân trong học thuyết
của Giáo hội
3. Những lợi ích của hôn nhân và việc trao
hiến bản thân
CẨM NANG CHO CÁC VỊ GIẢI TỘI
1. Sự thánh thiện của hôn nhân
1.1. Mọi kitô hữu đều có ơn gọi nên thánh trong bậc sống riêng của ḿnh.
1.2. Đức ái là linh hồn của sự thánh thiện trong đời hôn nhân.
1.3. Tự sức ḿnh, con người không thể nên thánh trong đời hôn nhân, họ
cần đến ân sủng của Chúa Thánh Thần.
1.4. Kinh nghiệm thực tiễn của đời hôn nhân: yếu đuối của con người và
ḷng thương xót của Thiên Chúa. Đây là kinh nghiệm của đức tin.
1.5. Kết hợp vợ chồng và lưu truyền sự sống là “những cam kết riêng biệt
của đôi vợ chồng vào sự thánh thiện hôn nhân của họ”.
2. Giáo huấn của Giáo hội về việc sinh sản có
trách nhiệm
2.1. Phải dạy cho các đôi vợ chồng biết “giá trị vô song và cái giá của
sự sống con người”.
2.2. Những bậc là làm cha mẹ có vai tṛ “cộng tác viên của Thiên Chúa”
trong việc lưu truyền sự sống.
2.3. Chức vị làm cha mẹ phải được hiểu là có “trách nhiệm”.
2.4. Việc ngừa thai là một sự xấu nội tại (intrinsically evil). Và đây
là “học thuyết dứt khoát và không thể thay đổi”.
2.5. Các phương pháp có hậu quả phá thai lại càng nghiêm trọng hơn việc
ngừa thai.
2.6. Phương pháp ngừa thai “tự nhiên” là hợp pháp.
3. Những định hướng mục vụ cho các vị giải
tội
3.1. Vị giải tội phải quan tâm đến bốn khía cạnh:
a. Mẫu gương của Thiên Chúa
b. Thái độ thận trọng
c. Giúp hối nhân đạt đến sự sám hối trọn vẹn
d. Hướng hối nhân đến sự thánh thiện.
3.2. Bí tích Hoà giải là “quà tặng” cho hối nhân. Phải ưu tiên cho
“thiện chí giao hoà” của hối nhân.
3.3. Cần tránh việc xưng tội “ngắn gọn và máy móc”.
3.4. Khi được thắc mắc, vị giải tội phải trả lời cách thích hợp, cẩn
trọng và kín đáo, và không được phép chuẩn nhận những ư kiến sai lầm.
3.5. Vị giải tội phải giúp hối nhân nhận ra “những lỗi phạm nghiêm trọng
nội tại đối với luật Chúa” nhằm đến ḷng thống hối và ơn tha thứ. Sự tái
phạm tội ngừa thai phải được ban ơn xá giải khi hối nhân có ḷng thống
hối và quyết tâm chừa cải.
3.6. Khuyến khích cha giải tội trở thành vị “linh hướng đích thực”, nhất
là với những hối nhân xưng tội thường xuyên với một linh mục.
3.7. Bí tích Hoà giải đ̣i buộc phía hối nhân phải: thống hối, xưng tội
và dốc ḷng chừa. Vị giải tội cần chú ư huấn luyện cho hối nhân thoát
khỏi lương tâm sai lạc, hầu đem lại ư nghĩa trong sáng cho Bí tích Hoà
giải. Nhưng phải làm “với sự kín đáo và kính trọng”.
3.8. Một nguyên tắc luôn có giá trị: “tốt hơn là nên để cho hối nhân
sống theo ư ngay lành đối với những trường hợp mà sự sai lạc được quy
trách cho sự sai lầm bất khả thắng, một cách chủ quan”.
3.9. Phải hiểu cho rơ ràng: “Luật tiệm tiến” không đồng nghĩa với “tính
tiệm tiến của lề luật”.
3.10. Sự yếu đuối của con người không là chuẩn mực cho chân lư luân lư,
nhưng thúc đẩy hối nhân cậy trông vào ḷng Chúa thương xót.
3.11. Đối với hối nhân tái phạm đức khiết tịnh vợ chồng thường xuyên, vị
giải tội vẫn không được từ chối ban bí tích xá giải cho họ.
3.12. Khi hối nhân thường xuyên lănh bí tích với ḷng tin tưởng, th́ nên
khuyến khích hối nhân xét ḿnh nghiêm túc trước mặt Chúa.
3.13. Ba điều kiện để cộng tác vào tội lỗi của người phối ngẫu cách hợp
lệ:
a. Hành động tự bản chất là hợp pháp
b. Phải có lư do nghiêm trọng tương xứng
c. Phải giúp bạn phối ngẫu từ bỏ tội lỗi
3.14. Phải cân nhắc kỹ càng việc cộng tác trong những phương pháp có hệ
quả phá thai.
3.15. Các đôi vợ chồng “Có thể hoàn tất ư định của Thiên Chúa trong đời
sống vợ chồng với ân sủng của Chúa”: cầu nguyện, Bí tích Thánh Thể, Bí
tích Hoà giải.
3.16. Giám mục cũng như các linh mục phải có những tiêu chuẩn đồng nhất
trong giảng dạy cũng như trong lănh vực Bí tích Hoà giải trong sự trung
tín với Huấn quyền, để tránh gây gương mù.
3.17.18. Mục vụ giải tội phải được liên kết với mục vụ giáo lư.
3.19. Tội phá thai và việc xá giải phải theo Giáo luật.
KẾT LUẬN
Phần kết luận tuyên dương ḷng thương xót, cụ thể qua ba điểm:
- Ở thời đại chúng ta cần tuyên dương ḷng thương xót.
- Ḷng thương xót của Thiên Chúa thể hiện tuyệt hảo nơi Bí tích Hoà
giải.
- Ước mong các linh mục thực sự là những chứng nhân sống động về ḷng
thương xót của Thiên Chúa đối với các đôi vợ chồng.
b. Vấn đề ngừa thai:
Nếu ở điểm 2, 4 nêu rơ rằng: “Giáo hội luôn luôn dạy việc ngừa thai là
một sự xấu nội tại, nghĩa là mỗi hành vi vợ chồng chủ tâm làm cho không
thụ thai là một sự xấu nội tại. Giáo huấn này phải được hiểu như là một
học thuyết dứt khoát và không thể thay đổi”, người ta có thể nghĩ rằng
tài liệu này chỉ lặp lại giáo huấn của Thông điệp Humanae Vitae. Nhưng
thực sự không hoàn toàn như thế.
Trong Cẩm nang hướng dẫn, chúng ta t́m thấy ở 2, 4 những tiêu chuẩn dùng
để diễn tả việc ngừa thai như là sự xấu nội tại như sau:
- Đối nghịch với sự khiết tịnh hôn nhân
- Chống lại việc lưu truyền sự sống
- Trái ngược với sự trao tặng cho nhau của đôi vợ chồng
- Gây tổn thương t́nh yêu chân thật
- Phủ nhận vai tṛ của Thiên Chúa trong việc lưu truyền sự sống. Nghĩa
là người ta quên điều này: con người chỉ là kẻ thừa hưởng công tŕnh
sáng tạo, chứ không phải là sở hữu chủ, và con người không thể sử dụng
công tŕnh sáng tạo theo ư riêng ḿnh, tách rời khỏi nguồn gốc và tương
lai của nó. Đó chính là ư nghĩa mà khái niệm truyền sinh muốn bảo vệ.
Như thế theo một vài cách nh́n nào đó, tài liệu này có vẻ chỉ củng cố
giáo huấn của Thông điệp Humanae vitae. Nhưng dưới góc nh́n khác, nó lại
diễn đạt tinh tế các sự việc và đề nghị một thái độ mục vụ quư báu.
Như vậy đă rơ ràng, nếu ngừa thai là điều trầm trọng, th́ phá thai là
điều c̣n trầm trọng hơn. Đôi khi có những liệt kê làm cho hiểu rằng ngừa
thai và phá thai thuộc cùng một b́nh diện.
Kế đến, tài liệu yêu cầu vị mục tử đừng đặt những câu hỏi liên quan đến
những chủ đề mà những người đi xưng tội đă không gợi lên. Truyền thống
có từ thời thánh An-phong de Li-gô-ri này đề cao lương tâm sáng suốt của
các kitô hữu. Chắc chắn đây không phải là một sự nhân nhượng cho các
nguyên tắc, nhưng có một sự ưu tiên thuận lợi cho các hối nhân. Ngược
lại, nếu những yếu tố được nêu lên, th́ luôn có thể yêu cầu những giải
thích rơ ràng để hiểu (nhưng không nên đ̣i hỏi những chi tiết có nguy cơ
dẫn vị giải tội đến thói ṭ ṃ thiếu lành mạnh). Cũng không được gọi là
một sự thiện điều ǵ thuộc về sự rối loạn.
V. Năo trạng ngừa thai
Ngày nay chúng ta nghe nhiều rằng, việc ngừa thai với nghĩa sát sao nhất
tương ứng với một năo trạng ngừa thai mà chúng ta có thể diễn tả như
sau:
Chúng ta biết rằng, điều làm nên hôn nhân chính là sự dâng hiến cho nhau
trong sự tín nhiệm sẻ chia và kéo dài suốt cuộc đời. Ngừa thai là một
cách giữ lại một phần của chính ḿnh, một phần khả năng sinh sản của
ḿnh. “Anh (em) cho đi tất cả chính anh (em), thân xác anh (em), trừ khả
năng sinh sản của anh (em). Sự tín nhiệm của anh (em) vào em (anh), vào
chính anh (em) không đạt đến đó. Anh (em) đón nhận tất cả từ em (anh),
trừ khả năng sinh sản của em (anh), sự tín nhiệm của anh (em) không đạt
đến đó”.
Sự giữ lại trong việc dâng hiến chính ḿnh, trong sự tín nhiệm lẫn nhau
là một nhát dao đăm vào khế ước hôn nhân. “Nếu tôi đă có thể giữ lại một
phần của chính ḿnh trong lănh vực giới tính, tại sao tôi không thể giữ
lại một phần của chính tôi trong lănh vực tiền bạc bằng cách giữ lại một
phần thu nhập của tôi; Tôi sẽ tha thứ cho người phối ngẫu nếu họ xin lỗi
tôi trước; Tôi sẽ không lắng nghe họ nếu họ không lắng nghe tôi trước;
Tôi sẽ không hỏi thăm họ ngày sống đă trải qua thế nào nếu họ không hỏi
thăm tôi trước…”.
Thái độ pḥng ngừa (giữ lại) được diễn tả ở đây có thể là một trong
những lư do của nạn ly dị. Càng giữ lại nhiều, người ta sẽ dâng hiến ít.
Sự dâng hiến lẫn nhau sẽ suy yếu dần, và những điều ti tiện nhỏ nhoi lại
được củng cố. Một đôi lứa nhường chỗ dần dần cho hai cá nhân. T́nh yêu
vô điều kiện, nền tảng của mọi hôn nhân, vướng phải một loạt những lỗi
hẹn, trể chuyến đ̣. Và trong những điều liên quan đến khả năng sinh sản
của ḿnh, đôi vợ chồng khi gặp thất bại trong việc ngừa thai (chẳng hạn
khi người vợ mang thai trong lúc hai vợ chồng không muốn sinh con) th́
giải pháp thông thường là phá thai. Đấy chính là một trong những triệu
chứng của năo trạng ngừa thai. Ngược lại với những triệu chứng này,
những đôi vợ chồng quyết định đón nhận con cái để chúng được sinh ra và
biến sự bàng hoàng v́ đă mang thai thành một tin vui chứng tỏ rằng họ
vẫn c̣n kính trọng những ngôi vị.
Lm. Phaolô Nguyễn Thành
Sang
Tài liệu tham khảo:
- CĐ. VATICANÔ II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes.
- ĐGH. PHAOLÔ VI, Thông điệp về sự sống con người - Humanae Vitae, ngày
25 tháng 7 năm 1968.
- HĐGM. PHÁP, “Lưu ư mục vụ về thông điệp Humanae vitae”, in
Documentation Catholique, số 1529, ngày 1 tháng 12 năm 1968.
- ĐGH. GIOAN PHAOLÔ II, Audience ngày 22 tháng 8 năm 1984.
- HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ GIA Đ̀NH, Cẩm nang hướng dẫn các vị giải tội về
một số vấn đề luân lư liên quan đến đời sống hôn nhân, ngày 12 tháng 2
năm 1997.
- Xavier THÉVENOT, “Magistère et discernement éthique”, in Compter sur
Dieu, Cerf, 1992, pp. 83-103.
|
|