| |
Hai ngàn năm lịch
sử chỉ được tóm lại trên mấy trang sách, th́ quả là khó
có thể hiểu hết được cách chính xác và găy gọn về Giáo
hội Công giáo, v́ đây là một tập thể lớn lao “trong thế
gian nhưng không thuộc về thế gian”, vừa thiêng liêng
vừa trần thế, vừa địa phương, vừa toàn cầu. Vậy, những
ḍng sau đây chỉ phác hoạ tổng quát đôi nét về tính lịch
sử của Giáo hội Công giáo, tuy đa dạng nhưng rất chặt
chẽ, chậm chạp nhưng năng động. Trải qua 20 thế kỷ mà
ngày nay số tín hữu đă lên tới 1.071.920.000 trong số
hơn 6 tỷ người của hoàn cầu.
Từ 12 người đầu tiên
Đức Giêsu
bề ngoài là con bác thợ mộc chân chất ở Nazareth, chẳng
có ǵ là cao sang quyền quư, sinh ra nơi nghèo hèn cô
quạnh, c̣n chết lại càng nhục nhă, thảm thương. Ngoại
trừ ba năm truyền giảng Tin Mừng, Ngài đă chứng minh
cách trực tiếp hoặc gián tiếp tính Thiên Chúa của ḿnh
bằng ngôn từ và hành động. Ngài đă tuyển chọn 12 người
làm môn đệ đầu tiên, tức Mười Hai Tông Đồ.
Cái chết
đau thương của Đức Giêsu đă làm cho 11 tông đồ c̣n lại
và những người thân tín quá hoảng sợ. Họ hầu như thất
vọng hoàn toàn. Đức Giêsu phục sinh rồi nhưng họ vẫn bán
tín bán nghi, chưa lấy lại được b́nh tĩnh, an hoà. Nhưng
từ giây phút Thánh Linh bất ngờ xuất hiện, các ông được
biến đổi hoàn toàn. Năo trạng thay đổi, tư duy cũng khác
lạ, lời nói và hành động không c̣n thuộc loại b́nh
thường, v́ đă vượt quá tầm mức thế gian của họ, bỏ xa
môi trường chài lưới trước đây. Rơ ràng không c̣n là họ
như xưa nữa!
Họ đă dám
mở tung cửa nhà đón tiếp bà con xa gần, lại c̣n ra nơi
công hội gặp gỡ, báo cho mọi người hay Tin Mừng: “Thầy
của họ, Đức Giêsu, đă phục sinh”. Đâu c̣n phải co rúm,
run rẩy như trước đây. Một xu dính túi cũng không, uy
quyền chẳng có, kiến thức đâu bằng các Kinh sư,
Pharisiêu, thế mà với hai bàn tay trắng, họ đă dám ngang
nhiên vào tận đền thờ Jerusalem, trung tâm xă hội tôn
giáo Do Thái, để “đối mặt” với những vị đầy uy thế,
quyền lực tại đó.
Họ đă
củng cố ḷng tin cho bao nhiêu người, và làm cho hàng
vạn kẻ tin vào Đức Giêsu. Nói chung, họ đă quy tụ những
người này thành một Giáo Hội sơ khai tại Jerusalem và
những vùng lân cận. Luật sống cao trọng nhất mà Đức
Giêsu truyền cho họ phải thi hành hằng ngày chỉ gồm
trong một động từ yêu: yêu Chúa, yêu người. Đă yêu th́
chia sẻ cụ thể cho nhau, đặc biệt trong bữa tiệc Thánh
Thể, nên họ đă để mọi sự làm của chung, không c̣n kè kè
lo giữ của cải theo kiểu “đồng tiền liền khúc ruột”.
Tầm nh́n
của các môn đệ Đức Giêsu không ngừng lại ở Judea,
Galilee, không c̣n giới hạn trong vùng Palestine, nhưng
xa hơn tới các dân ngoại; hơn nữa, các ông c̣n băng ḿnh
sang trung tâm văn hoá Hy Lạp, đến tận kinh thành Roma.
Đế quốc
Roma sau 5 thế kỷ với chế độ cộng hoà, bắt đầu mở rộng
qua Trung Đông dưới thời hoàng đế Augustus, rồi được
bành trướng rộng lớn nhất đời Trajanus (98 - 117), lan
ra các phía Nam Âu, Đông Nam Âu, Tiểu Á, Trung Đông, Bắc
Phi. Đế quốc Roma, một đế quốc hùng mạnh nhất thời đó mà
vị hoàng đế cực kỳ uy quyền tự cho ḿnh là Pontifex
Maximus. Với danh hiệu này, ông c̣n là lănh tụ một thứ
tôn giáo phiếm thần. Chính hoàng đế cũng là đối tượng
tôn thờ của dân: đối với đế quốc Roma bên Đông, ông được
coi là thần ngay khi c̣n sống; với thần dân phía Tây,
ông được coi là thần khi đă băng hà. Người dân trong đế
quốc phải tôn kính hoàng đế như vị thần mới tỏ ra là một
công dân đích thật.
Khi
Jerusalem bị phá huỷ b́nh địa do 50.000 quân của hoàng
đế Titus năm 70, nước Do Thái cũng biến mất, dân chúng
di tản khắp đế quốc, trong số này cũng có những người
sống chết theo Đức Giêsu. Thế là họ trở thành những hạt
giống Tin Mừng trong toàn đế quốc Roma, làm nên những
nhóm Kitô hữu sinh động lan tràn tới cả Bắc Phi. Trên
bản đồ đế quốc Roma, ngay vào giữa thế kỷ III, nhiều
trung tâm lớn Kitô giáo thành h́nh tại Roma, Milan,
Lyon, Corinth, Caesarea, Antioch, Alexandria, Damascus,
Carthage, Cyrene…
Về giáo
thuyết của Arius, một linh mục thành Alexandria, ông này
xác quyết Đức Giêsu là Con th́ không thể ngang hàng với
Chúa Cha, và Đức Giêsu chỉ là một thụ tạo hoàn toàn,
không phải là Thiên Chúa (từ Công đồng Nicaea năm 325
đến Vatican II năm 1962-1965, trong toàn Giáo Hội có 21
Công đồng Chung).
Vào thế
kỷ III nhiều dân tộc Bắc Âu và Đông Âu như Jutes, Angles
Saxons, Francs, Suèves, Burgondes, Vandales, Goths,
Ostrogoths, Visigoths, Huns, Alamans, Germans… tràn vào
đế quốc bên Tây (người Roma gọi họ là bọn Man Di) làm
cho đế quốc suy yếu dần rồi tàn lụi hoàn toàn năm 476.
Trái lại, đế quốc bên Đông c̣n trụ được và phát triển
trong gần 10 thế kỷ nữa, tức năm 1453, khi người Thổ Nhĩ
Kỳ chiếm đóng Constantinople.
V́ những đợt xâm nhập
như sấm sét của các dân Bắc Âu, đế quốc bên Tây rối
loạn, chỉ có Giáo Hội, nhờ giáo lư thâm sâu, có tổ chức,
có uy tín, nên chẳng những lo cho dân chúng nghèo khổ,
bảo vệ kẻ yếu hèn, mà c̣n hoán cải được những người đang
xâm lăng đế quốc. Giáo Hội trở thành một “lực lượng”
đứng ra dàn xếp với dân xâm lược. Uy tín của Giáo hoàng
Roma mỗi ngày một lớn mạnh, nên đă có thời kỳ như điều
khiển cả Nhà nước, Nhà nước lại muốn điều khiển giáo
hoàng.
Thế kỷ
VIII, thời đại Carolingien ra đời với Charles Martel là
người đă chặn đứng được cuộc bành trướng của Hồi giáo
tại Poitiers năm 732, sau khi họ đă tiến quân như vũ băo
từ Ai Cập, chiếm Bắc Phi, vượt Tây Ban Nha lên tới đất
Pháp, dù Hồi giáo mới được Đức Mohamed (Muhammad) sáng
lập tại Ả Rập năm 610. Thời kỳ này, ḍng họ Carolingien
và Giáo Hội sát cánh nhau: chính Pépin le Bref (kế vị
cha là Charles Martel) sau chiến thắng tại Ư, đă tặng
cho giáo hoàng các vùng đất chiếm lại của người Lombards
năm 756. Từ đó, xuất hiện Các Nước Giáo Hoàng (États
Pontificaux); năm 800, Đức Giáo hoàng Leo III phong
vương cho Charlemagne, con của Pépin le Bref. “Có đi có
lại mới toại ḷng nhau”. Ngay từ thời Pépin và các vua
kế tiếp, nhà vua đă can dự vào nhiều việc nội bộ Giáo
Hội, như bổ nhiệm các giám mục, dù các giám mục vẫn được
tự do tuyển chọn, huấn luyện các linh mục và trao các
giáo xứ cho các linh mục phụ trách. Thấy nhà vua can
thiệp quá sâu vào việc tổ chức của Giáo Hội, nhất là
việc bổ nhiệm các giám mục, nên năm 1076, Giáo hoàng
Gregorius VIII (1073 - 1085) ra vạ tuyệt thông cho vua
Henry IV, làm nhà vua mất uy tín với dân chúng; năm sau,
1077, chính Henry IV thân hành đến Canossa, đi chân
không, mặc áo sám hối, xin lỗi giáo hoàng.
Các nước
Tây Phương quá biết uy tín giáo hoàng trong Giáo Hội,
nên muốn “giành lấy giáo hoàng cho ḿnh” như vụ Đức Giáo
hoàng ở Avignon thế kỷ XIV và những vụ lộn xộn sau đó.
Cho đến năm 1870, giáo hoàng vẫn được coi như vua của
Các Nước Toà Thánh (les États du Saint - Siège), đâu có
phải chỉ là một nước Vatican nhỏ bé với 0,44km2 như ngày
nay.
Uy tín
của giáo hoàng đối với nhà cầm quyền cuối thời Trung Cổ
sang đầu thời Phục Hưng châu Âu đă giảm bớt, nhưng vẫn
c̣n được kính trọng, nên năm 1493, Đức Giáo hoàng
Alexander VI đă đứng ra phân chia cho vua Bồ Đào Nha và
Tây Ban Nha được quyền tự do phái người đi khám phá thế
giới theo hai hướng Đông, Tây.
Ngoài các
phẩm trật trong Giáo Hội, c̣n có một bậc sống không phải
là giáo sĩ, cũng chẳng phải là giáo dân, đó là các tu sĩ
ḍng. Đời sống hiến dâng hay các tu sĩ ḍng nói chung,
được khởi sự từ thế kỷ III với Thánh Antonius tại Ai Cập
trong nếp sống ẩn tu và nửa ẩn tu. Sang thế kỷ VI, Thánh
Benedictus (480-547) với tu luật nổi tiếng của ngài, lập
ra đan viện, mở đầu cho các kiểu đan tu trong Giáo hội
Tây Phương. Từ đó, xuất hiện nhiều thể loại tu tŕ của
cả hai giới nam nữ, chuyên việc chiêm niệm hay hoạt
động, do linh đạo và đặc sủng khác nhau, kéo dài cho đến
ngày nay. Theo thống kê của Giáo Hội năm 1998, có
141.437 linh mục ḍng trong tổng số 404.336 linh mục;
ngoài ra, c̣n 58.967 tu huynh và 828.660 nữ tu. Không kể
các ḍng tu thuộc quyền giáo phận, chỉ tính riêng ḍng
tu thuộc quyền Toà Thánh, ước chừng có 1.300 ḍng nữ và
300 ḍng nam. Đa số các linh mục ḍng không làm việc mục
vụ trực tiếp (cha sở, cha xứ) như các linh mục triều
(giáo phận), nhưng các linh mục ḍng, các tu huynh và
đông đảo nữ tu, chẳng những đă đóng góp, mà nhiều khi
c̣n đi tiên phong, nhất là trong cuộc truyền giáo từ thế
kỷ XII trở đi. Các tu sĩ phục vụ mọi người và không phân
biệt về chủng tộc, ngôn ngữ, thể chế chính trị…, trong
nhiều lĩnh vực như: tôn giáo, văn hoá, xă hội…, đặc biệt
lo cho những người nghèo khổ, bệnh tật, hoặc bị áp bức…
| CÔNG
CUỘC GIÁO DỤC |
|
Sau khi đế quốc
bên Tây sụp đổ năm 476, bắt đầu mở ra thời kỳ
được người ta quen gọi là thời Trung Cổ của châu
Âu. Đầu thời kỳ này, các đan viện ở châu Âu đóng
góp nhiều nhất cho việc giáo dục dân chúng, gần
như là “độc quyền”. Đan viện nào cũng là trung
tâm giáo dục cư dân quanh đó. Ngoài ra, chỉ có
các giám mục mới mở các trường học chủ yếu là
huấn luyện các giáo sĩ.
Nhưng sang thế
kỷ XII, các trường đại học ở Tây Âu ra đời, việc
tổ chức quy củ hơn, mở rộng hơn, thường có các
khoa: thần học, văn học, y khoa, giáo luật và
dân luật, nhưng thần học vẫn là khoa quan trọng
nhất và thời gian học lâu gấp đôi các khoa khác.
Các đại học được thành lập trong thế kỷ XII và
XIII: Bologne (thế kỷ XII); Valence (1209);
Oxford (1214); Paris (1215); Naples (1224);
Padoue (1228); Cambridge (1229); Salamanque
(1230); Roma (1249); Coimbra (1279). Qua nhiều
thế kỷ, số các trường học lớn nhỏ do Giáo Hội
thành lập không phải là ít, đặc biệt tại những
nơi nghèo nàn, thiếu điều kiện, hoặc chính quyền
chưa thể đảm nhận được toàn bộ công cuộc giáo
dục trong nước.
|
GIÁO HỘI CHIA RẼ |
|
Nếu có
hai khu vực hành chính Đông Tây riêng
biệt trong đế quốc, th́ ít ra cũng có
hai lối sống Kitô giáo trong đế quốc,
nhất là từ cuối thế kỷ V, lúc đế quốc
bên Tây sụp đổ. Thật ra, Giáo hội Đông
cũng như Tây đều cùng một đức tin, riêng
“năo trạng” tôn giáo có phần khác do ảnh
hưởng của những dị biệt chính trị, kinh
tế, văn hoá. Tuy Giáo hoàng Roma vẫn
được Giáo hội bên Đông nhận là vị đứng
đầu toàn Giáo Hội, nhưng giáo hữu bên
Đông cảm thấy gượng ép, khó chịu. Đặc
biệt, các dân tộc do Giáo hội bên Đông
truyền giáo (Bulgares, Slaves vùng
Balkans, Nga) lại chỉ công nhận Đức
Thượng phụ Giáo chủ Constantinople.
Xảy ra
cuộc phân ly hoàn toàn kể từ ngày
16-6-1054, khi đại diện của Đức Giáo
hoàng Leo IX và Thượng phụ Giáo chủ
Constantinople, Michael Cerularius, ra
vạ tuyệt thông lẫn nhau. Giáo Hội Đức
Kitô bị chia rẽ! Măi đến ngày 7-12-1965,
hai vị mục tử tối cao của Giáo hội Công
giáo và Chính Thống là Đức Phaolô VI và
Đức Thượng phụ Giáo chủ Constantinople
mới giải vạ cho nhau.
Trong
thực tế, hiện nay vẫn c̣n là hai Giáo
hội: Giáo hội Công giáo Roma và Giáo hội
Chính Thống, chưa kể “Giáo hội bên
Tây” từ đầu thế kỷ XVI đến nay xuất hiện
hàng trăm Giáo hội khác, lớn có, nhỏ có;
và Giáo hội bên Đông, tức Giáo hội Chính
Thống, cũng chia năm xẻ bảy. Từ 50 năm
gần đây, phong trào đại kết các Giáo hội
Kitô ra đời. Thiện chí th́ mọi phía đều
có, nhưng làm sao thực hiện được lời “di
chúc” của Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly
khi Ngài cầu nguyện với Đức Chúa Cha để
“họ nên một như chúng ta là một”.
|
|
VƯỢT RA NGOÀI CHÂU ÂU |
|
Thế kỷ
XV mở ra thời kỳ Phục Hưng châu Âu, trải
qua các biến cố:
- Thổ
Nhĩ Kỳ chiếm đóng Constan- tinople
(1453);
-
Columbus đặt chân lên đảo Watling tại
Trung Mỹ (1492);
- Đoàn
thám hiểm Magellan đi ṿng quanh trái
đất, bắt đầu từ Tây Ban Nha, đến cực Nam
Mỹ (1520), tới Philippines, vượt Ấn Độ
Dương ṿng qua mũi Hảo Vọng về tới Tây
Ban Nha;
- Hiệp
định Tordesillas (1494) phân chia thế
giới làm hai “dưới quyền bảo trợ” của Bồ
Đào Nha và Tây Ban Nha.
Nhờ
những sự việc trên và lúc đầu qua hai
cửa ngơ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Giáo
hội Công giáo cũng mở rộng tầm nh́n ra
thế giới, hầu Tin Mừng Đức Kitô vươn đến
mọi dân tộc, mọi nền văn minh khắp năm
châu. Giáo hội Công giáo gọi đó là công
cuộc truyền bá đức tin, ngày nay gọi là
Phúc Âm hoá các dân tộc. Tuy nhiên,
người ngoài Công giáo có khi lại hiểu là
“thực dân tôn giáo”, khi họ nhận ra lề
lối truyền đạo qua các thế kỷ của một số
nhà truyền giáo. Nhất là từ Công đồng
Lateran giữa thế kỷ XVI, nhiều vị truyền
giáo mang năo trạng đi “chinh phục” các
linh hồn, dù là đầy thiện chí, quả cảm,
hy sinh, bất chấp mọi ngăn trở, dám chết
cho đức tin. Cụ thể, các vị mang đến một
Đức Kitô đă Tây Phương hoá (ít là về bộ
mặt bên ngoài): Tây Phương từ cách suy
diễn đức tin đến cơ cấu tổ chức và nếp
sống phụng tự cùng những nghi lễ kèm
theo… Họ đă đem đến một nếp sống Công
giáo Tây Phương, khác với nếp sống tôn
giáo địa phương, điều mà Bộ Truyền bá
Đức tin (lập 1622) năm 1659 đă căn dặn
phải tránh cho xa, khi gửi 3 giám mục
Đại diện Tông Toà đi Đàng Trong, Đàng
Ngoài và Nam Kinh.
Lịch sử
đă diễn ra như vậy… Lỗi th́ chẳng thiếu.
Ví dụ: việc hội nhập văn hoá, coi thường
tôn giáo khác. Trong thiên kiến người
đời thường nh́n vào những thiếu sót đó,
nhưng ích lợi Giáo Hội mang lại cho
người ta thường dễ bị quên lăng. Dù vậy
lịch sử rất công bằng, chúng ta tin
tưởng vào quy luật ấy; cũng là tin vào
Chúa của lịch sử.
|
|
GIÁO HỘI BUNG RA |
|
Công
đồng Vatican II đă đưa Giáo hội Công
giáo vào một con đường mới hơn sánh với
20 Công đồng trước, v́ không phải chỉ
bàn tới việc củng cố nội bộ Giáo Hội,
bảo vệ và truyền bá đức tin, mà c̣n bắt
tay với toàn thể nhân loại, với mọi xă
hội, trao đổi chân t́nh với mọi tổ chức
địa phương và quốc tế, tôn trọng mọi nền
văn minh, văn hoá, mọi tôn giáo trên mặt
đất.
Nhân vật
số một của Giáo hội Công giáo, Đức Gioan
Phaolô II, đă tiếp xúc với rất nhiều
thành phần nhân loại không phải chỉ bằng
lời nói, chữ viết qua các thư từ, thông
điệp…, nhưng ngài đi khắp hoàn cầu, đích
thân gặp gỡ các dân tộc, các tầng lớp xă
hội. Đă nhiều lần ngài ra khỏi nước
Vatican, không thể tự giam hăm ḿnh như
mấy vị giáo hoàng từ năm 1870-1929, thời
thống nhất nước Ư đến thoả ước Lateran.
Trong 25 năm giáo hoàng, tính đến 2003,
Đức Gioan Phaolô II đă làm 99 cuộc hành
hương quốc tế, thăm viếng 129 quốc gia
(trong đó có 12 nước tại Á Châu, Ba Lan
(8 lần), Pháp (6 lần), Hoa Kỳ (5 lần),
134 lần mục vụ trong nước Ư và 274 lần
thăm các giáo xứ thuộc giáo phận Roma
của ngài. Ngoài ra, tính đến tháng
10-2003, ngài c̣n công bố 14 thông điệp,
mở ra 12 Thượng Hội đồng Giám mục thế
giới và tấn phong 177 vị hồng y, tuyên
thánh cho 432 vị và tôn vinh 1.314 chân
phước.
Giáo hội
Công giáo là một Hội Thánh do Đức Giêsu
thiết lập, nhưng các phần tử trong Giáo
Hội cũng chỉ là những con người với tất
cả hạn chế của một thụ tạo, dù con người
được coi là h́nh ảnh của Thiên Chúa.
Giáo Hội
đă trải qua nhiều thăng trầm trên nhiều
chặng đường lịch sử sáng ngời pha lẫn
đen tối, nhưng đó là một “tổ chức” chặt
chẽ, hoạt động liên tục 2000 năm rồi.
Giáo Hội sẽ c̣n nhiều đổi mới lớn nhỏ,
cách này cách khác, những đổi mới có thể
làm cho nhiều người phải ngỡ ngàng,
nhưng vẫn là Giáo hội Công giáo do Đức
Giêsu thiết lập.
Nói tóm
lại, Công đồng Vatican II mới chỉ là một
“pháo lệnh” cho cuộc đổi mới trong Giáo
Hội. V́ 20 thế kỷ qua, biết bao thứ bám
chắc vào Giáo Hội, mà đến nay có thứ chỉ
c̣n là những lớp vỏ khô cằn, không c̣n
ích lợi ǵ. Đàng khác, thế giới biến đổi
quá mau lẹ, nguyên về mặt thông tin cũng
đủ choáng ngợp rồi. Tuy nhiên, sức sống
của Giáo Hội không phải do chính con
người tạo ra, không phải do uy tín quốc
tế (dù hiện nay Vatican đă thiết lập
quan hệ ngoại giao chính thức theo cấp
bậc sứ thần, đại sứ với 180 quốc gia),
không phải do quyền lực, tiền tài…,
nhưng do Chúa Thánh Linh.
Lm. Giuse ĐỖ
QUANG CHÍNH, S.J.
|
|
|
|